Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Mùa hè sắp đến, những đợt nắng nóng kéo dài sẽ khiến con người mệt mỏi và khó chịu. Có một loại quả giúp chúng ta hạ nhiệt nhanh và tăng cường sức đề kháng chống lại bệnh tật trong mùa hè, đó là quả cam.

Phòng chống bách bệnh bằng cam

Cam là loại quả giàu chất chống oxy hóa và chất phytochemical. Theo các nhà khoa học Anh: “Bình quân trong một trái cam có chứa khoảng 170 mg phytochemicals bao gồm các chất dưỡng da và chống lão hóa”. Chuyên gia dinh dưỡng Monique dos Santos cho biết cam được yêu thích và có lợi cho người khỏe mạnh cũng như các bệnh nhân. Cam giúp giải nhiệt, thỏa mãn cơn khát cho người có cường độ vân động cao, tăng cường hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch của cơ thể.
Ngoài ra, nước cam còn là nguồn cung cấp phong phú kali, folate, vitamin B1, niacin, riboflavin và magiê. Vitamin B1 tham gia vào quá trình sản xuất năng lượng và giúp các dây thần kinh hoạt động tốt. Folate có công dụng cải thiện máu và thiết thực cho thai phụ vì giúp ngừa các khiếm khuyết ở thai nhi. Nước cam còn giúp giảm nguy cơ bị huyết áp cao và đột quỵ.
Ngoài ra cam còn có rất nhiều tác dụng khác:
Cam giúp cân bằng huyết áp
Cam chứa kali và thành phần flavonoid giúp giảm huyết áp và điều hòa huyết áp là một phần quan trọng trong giữ gìn sức khỏe tim mạch.
qua-cam-phong-chong-nhieu-benh-mua-he
Điều hòa mức cholesterol
Các synephrine alkaloid dưới vỏ cam có tác dụng giảm tần suất sản xuất cholesterol ở gan. Nguồn chất xơ dồi dào hòa tan giảm lượng cholesterol trong máu đồng thời nguy cơ bệnh tim giảm đáng kể.
Đồng công dụng của chất xơ là giúp bạn giữ cảm giác no lâu hơn, làm chậm phân hủy các carbohydrate và ngăn ngừa sự tăng lên của lượng đường trong máu. Như vậy, không phải xa lạ, cam là thực phẩm tốt trong việc kiểm soát lượng đường trong máu của bệnh nhân tiểu đường.
Giúp hỗ trợ hệ thống miễn dịch
Trong cam chứa rutin (vitamin P), thành phần giúp mạch máu khỏe mạnh, vitamin nhóm B, dưỡng chất không thể thiếu cho hệ thần kinh, các khoáng chất và chất xơ (hòa tan và không hòa tan). Là “đồng minh” trong việc ngăn ngừa các bệnh tim mạch, viêm nhiễm và ung thư, cam còn giúp củng cố hệ miễn dịch, chống cảm cúm, chống viêm, ức chế các tế bào ung thư, xoa dịu cơn đau ruột, dạ dày, gan.
Cam giúp chữa lành các vết thương nhanh hơn
Vitamin C đảm nhiệm vai trò quan trọng trong cơ thể để sản xuất collagen – protein chịu trách nhiệm tạo ra các mô liên kết, giúp vết thương, vết cắt hay xước da mau lành. Thiếu hụt collagen khiến các tế bào trong mạch máu thiếu sự gắn kết, cho phép máu rò rỉ trong các mô, cơ quan dễ dẫn đến chảy máu nướu răng và xuất hiện đốm màu đỏ đặc trưng của bệnh Scorbut.
Trị viêm phế quản và hen suyễn
Mật ong, muối và nước nóng pha với nước cam rất có lợi đối với bệnh nhân viêm phế quản và hen suyễn.
Trị chứng táo bón
Ăn hoặc uống nước cam vào bữa sáng liên tục trong vài ngày sẽ giúp bạn khắc phục chứng táo bón rất hiệu quả. Một cốc nước cam sau mỗi bữa sáng cũng sẽ mang lại cho bạn tinh thần phấn chấn để bắt đầu một ngày mới.
Buổi sáng cũng là thời điểm cơ thể hấp thu tốt nhất các canxi và các vitamin trong quả cam. Không nên uống nước cam vào buổi tối vì sẽ gây ra chứng khó ngủ.
qua-cam-phong-chong-nhieu-benh-mua-he-3
Trị viêm khớp
Chất Carotene - tiền sinh tố của vitamin A có tác dụng làm giảm cơn đau của viêm khớp và bệnh Gout.
Trị lão hoá da
Nước ép trái cam có thể sử dụng như một loại nước tẩy trang, làm sạch da. Vỏ quả cam được dùng tẩy da chết, tinh dầu trong vỏ cam sẽ làm da thêm mềm mại, lấy lại độ căng bóng do da hấp thụ được lượng tinh dầu trong vỏ cam, từ đó nâng cao sức đề kháng cho làn da.
Bổ sung cam trong thực đơn hàng ngày
Bạn có thể ăn cam trong bữa ăn nhẹ, vắt cam uống nước, chế biến thành các loại sinh tố, thêm thành phần cho món salad trái cây, sữa chua ít béo, dâu tây, chuối…
Các thành phần từ cam cũng được sử dụng rất phong phú từ lá, hoa, vỏ cây và trái đều có thể hãm thành nước uống có vị đắng nhẹ và hương cam đặc trưng. Nước hãm lá cam có thể giúp hạ hỏa, đặc biệt khi mất ngủ, xoa dịu rối loạn chức năng lưu thông máu.
TT

Không ai có thể ngờ rằng, những giọt mật ong thơm ngọt lại có thể chữa được rất nhiều bệnh như tim mạch, phổi, đau răng, dạ dày hay mụn nhọt…

Bảo vệ tim mạch
Mật ong mở rộng động mạch vành và dinh dưỡng cho cơ tim và cải thiện chức năng tim, huyết áp.
Sử dụng: bị bệnh tim , liều lượng hàng ngày của 50-140 g mật ong, 1-2 tháng, bệnh có thể được cải thiện. Tăng huyết áp, mỗi buổi sáng và buổi tối uống một cốc nước mật ong. người xơ vữa động mạch ăn mật ong có vai trò bảo vệ các mạch máu và hạ huyết áp .
Trị bách bệnh bằng mật cực kỳ hiệu quả

Thuốc bôi ngoài da flucina rất thông dụng trên thị trường, nhưng phải dùng thế nào cho đúng cách không phải ai cũng biết, dùng không đúng có thể khiến bệnh trầm trọng hơn và có những phản ứng nguy hại.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Chứa nhiều loại vitamin như vitamin C, vitamin A, carotenoid...ăn ổi có thể phòng tránh được rất nhiều bệnh như ho, cảm lạnh, cao huyết áp và tiểu đường...

Những điều cần biết về đau dạ dày và vitamin C - Nhiều người đau dạ dày do viêm, loét thường được khuyên không nên ăn chua để tránh tăng acid dịch vị gây ra các cơn đau do kích thích các ổ viêm loét.

Vitamin C có vị chua nên nhiều người lầm tưởng là bệnh dạ dày thì không được dùng thuốc này. Tuy nhiên, vitamin C (acid ascorbic) là một sinh tố cần thiết cho sức khỏe và có tác dụng tốt bảo vệ thành mạch.

Thuốc điều trị các bệnh cho hai giới - Nam giới và nữ giới sẽ có những đáp ứng khác nhau với dược phẩm và vì thế tác động của thuốc cũng có sự khác nhau giữa hai giới.

Giữa đàn ông và đàn bà sẽ có những khác nhau ở mỗi cơ quan bộ phận trong cơ thể. Ở nữ giới, gan sẽ sản xuất ra nhiều phiên bản enzyme khác nhau vốn có nhiệm vụ quan trọng trong quá trình chuyển hóa thuốc, vì vậy sẽ ảnh hưởng đến sự tác động của thuốc. Nữ giới cần biết một số điều cơ bản về thuốc sau đây nhằm đạt được hiệu quả trị liệu tối đa cũng như hạn chế ở mức thấp nhất các tác dụng phụ của thuốc.

Cây gạo:Thần dược thiên nhiên chữa bách bệnh - Cây gạo là một loài cây rất quen thuộc đặc biệt ở các vùng nông thôn Việt Nam. Các bộ phận của cây gạo như rễ, thân, hoa,… đều có thể dùng làm thuốc chữa bệnh.


Theo y học cổ truyền, vỏ thân cây gạo có vị cay, tính bình, có tác dụng khu phong, trừ thấp, hoạt huyết tiêu thũng... Nhân dân thường thu hái vỏ cây gạo mang về cạo vỏ thô và gai, rửa sạch thái nhỏ phơi hay sấy khô sắc uống hay giã nát dùng tươi để chữa các chứng bệnh như viêm loét dạ dày, tiêu chảy, viêm đau khớp, chấn thương bong gân, gãy xương,…
Hoa gạo vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ huyết, thường dùng để trị đi lỏng, kiết lỵ, băng huyết, viêm loét, nhọt độc, xuất huyết do chấn thương...
Rễ gạo vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, cầm máu, se vết thương, thường được dùng để chữa viêm loét dạ dày, kiết lỵ phân có máu, lao hạch, sưng vú sau khi sinh con, tổn thương do trật đả.
bai thuoc chua bẹnh bang cay gạo
Một số bài thuốc chữa bệnh từ các bộ phận của cây gạo:
Chữa bong gân:
- Vỏ thân cây gạo 16g (cạo bỏ vỏ ngoài, sao rượu), lá lốt 16g (sao vàng), sắc với 750ml nước, cô còn 250ml, chia uống 2 lần trong ngày.
- Vỏ thân cây gạo tươi, rau má tươi, vòi voi tươi và bồ công anh tươi, bốn thứ lượng bằng nhau, rửa sạch, giã nát, bó vào chỗ sưng đau.
- Vỏ thân cây gạo tươi, lá náng, quả đu đủ non, ba thứ lượng bằng nhau, rửa sạch, giã nhuyễn, đắp vào chỗ sưng đau.
Sưng nề do chấn thương: Vỏ thân cây gạo 100g, củ nghệ vàng già 100g. Vỏ thân cây gạo băm nhỏ, giã nát, nghệ vàng thái mỏng, dùng giấm thanh và rượu cho vào sao rồi chườm hoặc đắp vào vùng bị sưng nề khi còn nóng.
Chữa tê thấp đau mỏi: Vỏ thân cây gạo, dây đau xương, thân cây bọt ếch, mỗi thứ 1kg; vỏ cây lá đắng 2kg. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với nước lấy 200ml cao lỏng. Hòa 200ml rượu và 100ml sirô vào cao để được nửa lít thành phẩm. Ngày uống 50ml, chia 2 lần.
Giảm đau nhức xương khớp, đau cơ: Vỏ thân cây gạo tươi 50g, cạo bỏ lớp vỏ bẩn bên ngoài, thái mỏng,giã nát, thêm giấm thanh, trộn đều rồi băng đắp vào chỗ đau.
Chữa đau răng: Vỏ thân cây gạo 15g, sắc đặc, ngậm nhiều lần trong ngày.
bai thuoc chua benh bang cay gao
Sưng đau vú sau khi sinh: Vỏ thân cây gạo 20g, sắc uống ngày 1 lần. Dùng 3 - 5 ngày.
Chữa quai bị: Vỏ thân cây gạo 15g, sắc uống kết hợp với giã đắp bên ngoài ngày 1 lần có tác dụng thanh nhiệt, tiêu sưng, giảm đau rất tốt.
- Viêm khí phế quản cấp tính: Rễ gạo 30 g sắc uống.
- Ho khạc nhiều đờm do phế nhiệt: Hoa gạo 15 g, ngư tinh thảo (rau diếp cá) 15 g, tang bạch bì 10 g, sắc uống.
- Nôn ra máu: Hoa gạo 14 bông, thịt lợn nạc 100 g. Hoa gạo rửa sạch, thái nhỏ; thịt lợn thái miếng. Hai thứ nấu canh ăn.
- Ho ra máu: Hoa gạo 14 bông sắc kỹ, chế thêm một chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày.
- Lỵ trực khuẩn, viêm ruột và dạ dày cấp tính, đi lỏng, đại tiện ra máu: Hoa gạo 60 g, sắc kỹ, chế thêm một chút mật ong hoặc đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Hoặc: Hoa gạo 15 g, kim ngân hoa 15 g, phượng vĩ thảo (cỏ seo gà) 15 g, sắc uống. Hoặc: Hoa gạo 15-30 g sắc kỹ, chia uống 3 lần trong ngày.
- Sưng đau vú sau khi sinh con: Hạt cây gạo 10 g, sao vàng sắc uống.
- Trẻ em sốt cao vào mùa hè: Hoa gạo 6 g, sắc kỹ, chế thêm chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày.
- Viêm khớp mạn tính, đau lưng và đau gối mạn tính: Rễ gạo 30-60 g, sắc hoặc ngâm rượu uống. Hoặc: Vỏ thân cây gạo 15 g, sắc kỹ, bỏ bã, chế thêm một chút rượu vang, chia uống 2 lần trong ngày.
Trĩ xuất huyết: Hoa gạo 20 g, quyển bá 10 g, hòe hoa 15 g, sắc uống.
- Gãy xương: Sau khi nắn chỉnh ổ gãy, dùng vỏ rễ cây gạo tươi rửa sạch, giã nát, bó vào vị trí gãy xương, 2 ngày thay 1 lần.
TT

Công dụng thần kỳ chữa bách bệnh nhờ đu đủ - Tất cả bộ phận của cây đu đủ đều là những vị thuốc chữa được rất nhiều bệnh.

Tác dụng của quả đu đủ
- Học tập, đọc sách hoặc nhìn máy tính cả ngày khiến mắt bạn khô và đau nhức. Để cải thiện tình hình, hãy tăng cường ăn đu đủ hàng ngày. Ngoài ra, thành phần lutein và zeaxanthin, được gọi là hoàng thể tố (xanthophylls), tập trung ở khu vực điểm vàng của mắt, có chức năng bảo vệ chống lại năng lượng ánh sáng cao có thể gây tổn hại đến võng mạc mắt.
Công dụng thần kỳ chữa bách bệnh nhờ đu đủ

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Công dụng chữa bệnh thần kỳ từ việc ăn chuối - Quả chuối, một loai quả rất thông dụng trong đời sống hàng ngày lại có thể chữa trị rất nhiều bệnh.

Tốt cho tim mạch, hệ thần kinh:
Chuối là loại quả chứa hàm lượng kali cao - một loại khoáng chất thiết yếu cho sức khoẻ tim mạch và hệ thần kinh. Kali rất cần cho các hoạt động cơ bắp, nhịp đập của tim và cho hệ thống tiêu hóa...

Cà chua: Thần dược chữa bách bệnh - Cà chua là một loại chứa rất nhiều vitamin và khoáng chất trong đó có chất lycopene, một chất giúp cơ thể chống lại bênh ung thư và một số loại bệnh khác.

Cà chua: Thần dược chữa bách bệnh
Cà chua: Thần dược chữa bách bệnh

Thuốc điều trị hiệu quả bệnh tiểu ra máu - Tiểu ra máu là mọt căn bệnh nguy hiểm. Khi phát hiện ra bệnh cần kịp thời đến gặp bác sĩ để tìm hướng giải quyết.

Nước tiểu bình thường có màu vàng rơm hoặc trong. Tiểu ra máu là hiện tượng có máu trong nước tiểu. Trên thực tế, bạn có thể thấy máu đỏ tươi trong nước tiểu; nhưng máu cũng có thể bị hòa tan, làm cho nước tiểu có màu hồng, màu gỉ sắt hoặc nâu.
Tiểu ra máu xuất hiện đột ngột và không kèm theo đau là dấu hiệu phổ biến nhất của ung thư bàng quang. Niệu huyết cũng có thể là dấu hiệu của ung thư thận hoặc ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới, đặc biệt với những người trên 50 tuổi. Những dấu hiệu của ung thư tuyến tiền liệt thường thấy hơn ở đường tiết niệu, bao gồm dòng nước tiểu yếu hoặc ngắt quãng, tiểu tiện nhiều hoặc ít đi, cảm giác đau hoặc rát bỏng khi tiểu tiện. Tuy nhiên, hầu hết mọi bệnh nhân chỉ thấy có một vài triệu chứng nào đó. Để điều trị, có thể phải dùng phẫu thuật cắt bỏ tuyến, tia xạ hoặc điều trị bằng nội tiết.
Tùy theo nguyên nhân đái máu mà chọn biện pháp và thuốc điều trị thích hợp. Một số bệnh ở đường tiết niệu có thể gây đái máu.

Hoa Atiso: Thần dược chữa bệnh tuyệt vời - Hoa atisô có thể chữa trị được nhiều bệnh như gan, tim mạch và tốt cho hệ tiêu hóa, và giảm cholesterol...

Atiso: Thần dược chữa bệnh tuyệt vời

Tác hại nghiêm trọng từ việc sử dụng thuốc Aspirin - Aspirin là vị thuốc có thể chữa được nhiều bệnh. Tuy nhiên với những người bị bệnh hen phế quản, thuốc có thể làm cho cơn hen trở nên trầm trọng, thậm chí nguy hiểm tới tính mạng.

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Đau nửa đầu là một dạng đau đầu đặc biệt, chiếm khoảng 10% dân số, gặp ở cả nam và nữ với tỷ lệ nữ gấp 3 lần nam; là một hội chứng thần kinh với những triệu chứng điển hình như thay đổi khả năng cảm nhận của các giác quan, đau đầu và buồn nôn.

Đau nửa đầu
Đau nửa đầu điển hình thường chỉ ảnh hưởng một bên đầu, nhức và kéo dài từ 4 - 72 giờ đồng hồ với những triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, sợ ánh sáng và sợ âm thanh (nhạy cảm với âm thanh và ánh sáng). Khoảng 1/3 người bị chứng đau nửa đầu cảm nhận được tiền triệu (aura) hình ảnh, mùi vị, hoặc một cảm nhận giác quan không bình thường báo hiệu cơn đau nửa đầu sắp diễn ra. Về nguyên tắc điều trị là dùng thuốc giảm đau, thuốc chống nôn nếu bị buồn nôn và tránh các yếu tố gây đau đầu.

Hen phế quản là tình trạng phản ứng cao độ ở phế quản trước nhiều kích thích khác nhau, biểu hiện đặc trưng là cơn khó thở với tiếng rít cò cử do co thắt cơ trơn phế quản, phù nề niêm mạc và tăng tiết dịch nhày phế quản. Theo y học cổ truyền, hen phế quản thuộc phạm trù “háo suyễn”, “đàm ẩm”.

Trị hen phế quản bằng thuốc đông y cực hiệu quả

Có nhiều mức độ tổn thương gan do tác dụng phụ của thuốc. Những thuốc thường gây tổn thương gan như: thuốc điều trị lao, thuốc trị tiểu đường, thuốc điều trị nấm… Những bệnh nhân có sẵn bệnh gan mạn tính dễ bị ngộ độc thuốc hơn bệnh nhân gan bình thường.

Phân loại gan bị tổn thương do thuốc
Tổn thương gan do thuốc có thể phân loại: tổn thương tế bào gan, tổn thương đường mật hoặc tổn thương phối hợp cả hai. Có nhiều loại thuốc không chỉ gây tổn thương đơn độc mà gây tổn thương phối hợp. Tổn thương gan do thuốc thường có đặc điểm giống bệnh lý tự miễn.

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Bí ngô là thực phẩm rất quen thuộc ở nước ta và mang lại cho rất nhiều lợi ích cho cơ thể, nhưng chắc hẳn các bạn có thể chưa biết rằng bí ngô là một bài thuốc chữa bệnh tiểu đường rất hiệu quả.

 Bí ngô thường được sử dụng làm món ăn trong các bữa ăn giúp cơ thể bổ sung lượng vitamin, sắt và muối khoáng. Trong dân gian bí ngô được sử dụng để tạo ra rất nhiều bài thuốc giúp chữa các bệnh như tiêu đờm, giải độc, tốt cho người bị tiểu đường và đặc biệt là bí ngô còn là một phương thuốc chữa bệnh tiểu đường rất hiệu quả.
Bí ngô hay còn được gọi là bí đỏ, là thực phẩm dùng để giúp bổ sung hàm lượng sắt, vitamin, muối khoáng cũng như các axít hữu cơ cần thiết cho cơ thể. Axit ascorbin có trong bí đỏ giúp tránh cảm, và các vitamin nhóm B giúp tránh được tình trạng mệt mỏi, cáu giận và mất ngủ, giúp tóc và móng chân, tay trở nên chắc khỏe hơn. Bí ngô có rất nhiều các lợi ích đối với cơ thể như: bí ngo giúp thanh nhiệt, giải khát, sinh tân dịch, giúp trị quáng gà, khô mắt rất tốt trong thành phần có chứa nhiều vitamin A, giúp giảm béo hiệu quả, và là phương thuốc tốt để phòng chống bệnh tim mạch, nhuận tràng, hồi phục tuyến tụy và còn giúp làm đẹp da, tăng cường hệ thống miễn dịch và làm giảm nguy cơ gây ung thư.
Bí ngô: Thần dược chữa tiểu đường hiệu quả
Bí ngô: Thần dược chữa tiểu đường hiệu quả 

Cơ thể con người luôn cần được cung cấp đầy đủ các vitamin mỗi ngày để có thể phát triển toàn diện được. Ngoài là chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể ra thì vitamin còn là một bài thuốc giảm cân an toàn cho mọi người.

Vitamin rất sẵn có trong các loại thực phẩm mà hàng ngày ta dùng. Chỉ cần được sử dụng đúng cách thì vitamin có thể là bài thuốc giảm cân an toàn và mang lại hiệu quả cao cho bạn. Vì thế, bạn nên thường xuyên bổ sung thêm các vitamin này vào trong chế độ ăn uống để đạt được mục tiêu giảm cân nhanh hơn và hiệu quả hơn. Dưới đây là một số loại vitamin giúp hỗ trợ bạn trong việc giảm cân hiệu quả.

Có rất nhiều bài thuốc giúp bạn cải thiện được tình trạng bệnh tiểu đường của mình, nhưng bài thuốc trị bệnh tiểu đường bằng thực phẩm vẫn là phương pháp được sử dụng nhiều nhất từ trước đến nay.

Một trong các bài thuốc trị tiểu đường đơn giản và hiệu quả nhất chính là từ các loại thực phẩm hàng ngày. Một chế độ ăn uống hợp lý và tuân thủ theo đúng các nguyên tắc trong việc điều trị sẽ rất tốt trong việc làm cải thiện tình trạng của bệnh tiểu đường cho bạn.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Loét aphthe (áp-tơ) miệng là tổn thương loét đau ở miệng với vết loét nhỏ dưới 1cm, hình bầu dục hoặc tròn có bờ màu đỏ. Vị trí thường thấy ở phần niêm mạc phía trong của miệng. Loét áp-tơ là một trong những bệnh phổ biến về tổn thương niêm mạc miệng.

Nguyên nhân và triệu chứng
Loét áp-tơ là một bệnh chưa rõ nguyên nhân, có một số yếu tố được coi như nguyên nhân gây bệnh: thiếu vitamin C, PP, B6, do vi khuẩn hay siêu vi trùng, do dị ứng thuốc hay thức ăn, do rối loạn nội tiết, di truyền tâm lý , thần kinh, miễn dịch.
Bệnh dễ xuất hiện khi bị một chấn thương ở niêm mạc, khi cơ thể bị stress...
Triệu chứng của bệnh thường đau, khó chịu, ăn uống kém, thường không sốt và không nổi hạch. Loét áp-tơ có những vết loét nông đứng rời rạc kích thước 1cm, sâu hơn hoặc thành một cụm... phủ lên giả mạc vàng xám và có quầng đỏ xung quanh vết loét.

Một khi bạn cảm thấy bị căng thẳng, nhức đầu, thử thực hiện theo các bài tập thể dục đơn giản sau. 




Tập yoga: Một trong những hình thức tập thể dục tốt nhất để giảm stress là tập yoga vì giúp bạn tập trung vào từng hơi thở, từ đó có lợi cho sức khỏe tinh thần. Nhảy, khiêu vũ: Đây là sự pha trộn của một số bài tập thể chất và tinh thần có tác dụng làm giảm căng thẳng.

Đi bộ: Cách đơn giản và hiệu quả nhất để đẩy lùi những suy nghĩ làm bạn nặng đầu là đi bộ. di chuyển thường xuyên còn giúp ngừa bệnh tim mạch, giữ huyết áp ổn định
.
Vận động nhanh: Giúp bạn cảm thấy tinh thần tốt hơn và nhẹ nhõm đầu óc. Các chuyên gia cho biết khi bạn chạy, bạn có nhiều khả năng suy nghĩ hợp lý và tìm ra giải pháp cho những vấn đề đang làm đầu bạn căng như dây đàn.

Karate: Tập môn võ thuật này giúp bạn giải phóng năng lượng và sự mệt mỏi.

Làm vườn: Đây là một dạng tập thể dục giúp giảm căng thẳng và đốt cháy nhiều calo. Theo các chuyên gia, nhổ cỏ sẽ đốt cháy khoảng 200 calo trong một giờ, trong khi tiếp xúc với đất có tác dụng làm tươi mới tinh thần.

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

Thuốc mỡ (dạng cream bôi) chứa corticoid là những chế phẩm có tác dụng tốt và nhanh trong điều trị một số bệnh ngoài da, sẩn ngứa, dị ứng, viêm da tiếp xúc, viêm da thần kinh… Người ta thường dùng các corticoid tổng hợp có hoạt phổ mạnh, có hiệu quả cao, ít gây tác dụng phụ để điều trị các bệnh ngoài da.

Dược lý và cơ chế tác dụng
Cơ chế tác dụng của các corticoid dùng tại chỗ là do phối hợp 3 tính chất quan trọng: chống viêm, chống ngứa và tác dụng co mạch.

Rối loạn xuất tinh là một bệnh lý phổ biến ở nam giới, bệnh không những ảnh hưởng đến đời sống tình dục, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình mà còn là một trong những nguyên nhân gây vô sinh ở nam giới. Chẩn đoán đúng nguyên nhân gây bệnh mới có hướng điều trị đúng và hiệu quả.

Rối loạn xuất tinh ở nam giới thông thường bao gồm xuất tinh sớm, xuất tinh muộn, không xuất tinh, xuất tinh ngược dòng…

Xuất tinh sớm
Xuất tinh sớm gây ra các hậu quả tiêu cực cho bản thân như chán nản, bực bội, tránh quan hệ tình dục”. Yếu tố quan trọng nhất đánh giá xuất tinh sớm là thời gian từ lúc dương vật được đưa vào âm đạo cho tới khi xuất tinh, còn được gọi là thời gian chờ xuất tinh trong âm đạo (IELT). Với định nghĩa của Hội Y học giới tính thế giới, thời gian 1 phút được xem là mốc để đánh giá việc xuất tinh có bị sớm hay không.
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra xuất tinh sớm thường được nghĩ là do yếu tố tâm lý. Tuy nhiên, yếu tố tâm lý như lo âu thường gây ra giảm ham muốn, rối loạn cương và chậm xuất tinh chứ không dẫn đến xuất tinh sớm; còn sự phấn khích quá mức chỉ gây ra xuất tinh sớm tạm thời chứ không dẫn đến xuất tinh sớm hằng định. Ngày nay, xuất tinh sớm được nghĩ là do sự tăng nhạy cảm của dương vật hay rối loạn thụ thể 5-Hydroxytryptamine (5-HT) tại trung tâm kiểm soát xuất tinh ở não.
Điều trị
Thuốc tê thoa qui đầu:
Thuốc tê thoa tại chỗ như kem hay thuốc xịt lidocaine và prilocaine làm giảm cảm giác qui đầu để làm tăng khả năng kiềm chế sự xuất tinh. Tuy nhiên, thuốc tê thường gây giảm sự cương cứng, có thể gây cảm giác “bì bì” ở dương vật và nếu nó ngấm qua âm đạo thì cũng gây cảm giác tê rần ở âm đạo.
Các PDE5i (sildenafil, vardenafil, tadalafil, udenafil, avanafil): Đây là những thuốc dùng trong điều trị rối loạn cương. Do vậy, các thuốc này có thể có hiệu quả ở những người vừa bị rối loạn cương, vừa bị xuất tinh sớm; các trường hợp khác ít hiệu quả.
Các SSRI: Các thuốc này có thể uống mỗi ngày, ví dụ paroxetine (20 – 40mg), sertraline (50 – 100mg) và fluoxetine (20 – 40mg). Clomipramine (10 – 50mg), một thuốc chống trầm cảm ba vòng cũng có tác dụng tốt trong điều trị xuất tinh sớm. Tác dụng phụ của chúng là mệt mỏi, ngáp, buồn nôn, nhược cơ, run, phân lỏng. Những tác dụng phụ này thường xuất hiện trong tuần đầu và mất dần trong 2-3 tuần. Đôi khi chúng còn gây giảm ham muốn tình dục và giảm vừa phải độ cứng dương vật; khi ngưng thuốc thì các tình trạng này cũng mất đi. Ngoài ra, các thuốc này cũng có thể uống theo nhu cầu, khoảng 5 giờ trước khi giao hợp có thể giúp kéo dài thời gian xuất tinh.
Tất cả những thuốc kể trên đều là thuốc điều trị xuất tinh sớm không chính thức (off-label). Thuốc uống đầu tiên được chính thức công nhận là thuốc điều trị xuất tinh sớm nguyên phát theo nhu cầu, cho nam giới từ 18-64 tuổi là dapoxetine, đã được 2 nước Phần Lan và Thụy Điển cho phép lưu hành từ ngày 10/2/2009. Dapoxetine cũng là một thuốc thuộc nhóm SSRI, nhưng có thời gian tác dụng nhanh nên chỉ cần uống trước khi quan hệ 1-3 giờ và thuốc cũng mau bị thải ra khỏi cơ thể.
Chậm xuất tinh, không xuất tinh
Không xuất tinh là sự không tiết tinh vào niệu đạo sau. Bất cứ thuốc hay thủ thuật nào làm hư hại sự cung cấp thần kinh giao cảm cho ống dẫn tinh và cổ bàng quang, thần kinh thân thể ly tâm tới sàn chậu hay thần kinh thân thể hướng tâm tới dương vật đều có thể gây không tiết tinh hay chậm xuất tinh. Chậm xuất tinh hay không xuất tinh gây ra sự bức bối, mệt mỏi cho bệnh nhân và cả bạn tình.
Nguyên nhân có thể là chấn thương tủy sống (trên L10), cắt hạch giao cảm (sympathectomy) chức năng có thể do bệnh thần kinh đái tháo đường hay do phẫu thuật cắt đại tràng, trực tràng, phình động mạch chủ bụng và các bệnh lý mạch máu ngoại khoa khác, cắt tuyến tiền liệt mở và nạo hạch sau phúc mạc do ung thư tinh hoàn. Lo âu cũng là một yếu tố gây chậm xuất tinh hay không xuất tinh. Những người sử dụng các thuốc chống trầm cảm (như SSRI) cũng là nguyên nhân gây chậm xuất tinh hay không xuất tinh.
Điều trị: cần quan tâm đến hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân để làm giảm lo âu. Nếu bệnh nhân đang sử dụng SSRI thì cần ngưng thuốc này, chuyển sang nhóm chống trầm cảm khác ít gây ảnh hưởng trên sự xuất tinh và tình dục như trazodone.
Nếu bệnh nhân không đang sử dụng SSRI: Thuốc điều trị chậm xuất tinh hay không xuất tinh là những chất đồng vận α như phenylephrine. Tuy nhiên, tỉ lệ thành công khá thấp (dưới 30%).
Xuất tinh ngược dòng
Xuất tinh ngược dòng là sự tống xuất của tinh dịch trong niệu đạo sau vào bàng quang, hoàn toàn hay một phần. Xuất tinh ngược dòng là do hư hỏng cơ chế đóng – mở cổ bàng quang, thường do phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt gây ra (phẫu thuật mổ hay nội soi). Bệnh nhân vẫn có cảm giác cực khoái, dù có giảm ít nhiều, một phần do tuổi cao.
Điều trị xuất tinh ngược dòng bằng các chất giống giao cảm có thể có hiệu quả như pseudoephedrine, ephedrine, phenylpropanolamine. Các chất này kích thích sự phóng xuất norepinephrine (noradrenaline) từ các tận cùng thần kinh và cũng có thể kích thích trực tiếp trên cả các thụ thể α và β adrenergic. Imipramine, ức chế sự tái hấp thu của norepinephrine cũng có thể có hiệu quả.
Ngoài ra, nam giới lớn tuổi thường hay gặp xuất tinh khô, nguyên nhân do xuất tinh ngược dòng, suy tuyến sinh dục, tắc ống phóng tinh, bất sản túi tinh hai bên.

Đầy hơi, trướng bụng là các triệu chứng thuộc về đường tiêu hóa, tuy không gây nguy hiểm nhưng gây khó chịu cho người bệnh. Thông thường, chứng đầy hơi xảy ra khi thói quen ăn uống nhiều tinh bột, các loại thức ăn chứa nhiều sorbitol, thói quen hay nhai kẹo cao su, thiếu hụt enzyme lactase, suy tuyến tụy. Tuy nhiên, cũng cần chú ý, khi sử dụng một số loại thuốc liều cao, kéo dài có thể dẫn tới tình trạng này.

Vitamin E
Vitamin E có nhiều trong dầu thực vật như dầu cám, dầu lạc, trong các hạt nảy mầm, trong rau xanh; được hấp thu qua niêm mạc ruột và cần có sự nhũ hóa của acid mật.
Vitamin E có rất nhiều tác dụng quan trọng, trong đó có tác dụng chống ôxy hóa bảo vệ màng tế bào khỏi sự tấn công của các gốc tự do, nhờ đó bảo vệ được tính toàn vẹn của màng tế bào. Ngoài ra, vitamin E còn có tác dụng hiệp đồng với vitamin C, vitamin A, selen nhất là có tác dụng bảo vệ vitamin A không bị ôxy hóa.
Chính vì tác dụng chống ôxy hóa mà hiện nay, việc sử dụng vitamin E trong điều trị nhiều khi bị lạm dụng. Do đó cần phải lưu ý, khi dùng liều cao, kéo dài có thể gặp các tác dụng không mong muốn như buồn nôn, nôn, đầy hơi, tiêu chảy…

Sắt
Sắt hằng ngày cung cấp cho cơ thể chủ yếu từ thức ăn như gan, tim, trứng, thịt nạc, hoa quả. Ở người bình thường, nhu cầu sắt khoảng 0,5 – 1mg trong 24 giờ, nhưng tăng lên gấp đôi ở phụ nữ khi hành kinh và tăng lên 5 – 6 lần ở phụ nữ mang thai.
Thuốc được chỉ định sử dụng trong các trường hợp sau cắt đoạn dạ dày, viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm ruột mạn tính, rong kinh, trĩ, nhiễm giun móc, phụ nữ mang thai hoặc thời kỳ cho con bú.
Tuy nhiên cần chú ý, khi dùng đường uống, thuốc có thể gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa dẫn đến tình trạng lợm giọng, buồn nôn, táo bón, đầy hơi… khi dùng đường tiêm có thể gây nhức đầu, buồn nôn, sốt và đặc biệt khi dùng quá liều có thể gây tử vong.
Canxi
Canxi là khoáng chất phong phú nhất trong cơ thể, tham gia vào hầu hết các quá trình của sự sống và canxi còn có tên gọi là “nguồn gốc của sự sống”.
Tuy nhiên, trong thực tế không phải ai cũng có thể duy trì chế độ ăn uống để cung cấp đủ canxi, nhất là với các đối tượng có nhu cầu canxi cao hơn bình thường như phụ nữ có thai, trẻ em đang phát triển, người cao tuổi… khi đó cần phải sử dụng canxi bổ sung dưới dạng thuốc. Nhưng bên cạnh tác dụng tích cực, khi dùng canxi bổ sung có thể gặp các tác dụng không mong muốn như:
Đầy hơi: Đây là tác dụng phụ thường gặp và thường xảy ra khi mới bắt đầu sử dụng calcium bổ sung. Khi đã quen dần với liều lượng bổ sung calcium hằng ngày, sự đầy hơi cũng không còn xảy ra.
Buồn nôn và nôn: Bổ sung calcium liều cao lúc bụng đói có thể gây buồn nôn và nôn. Điều này gây ảnh hưởng tai hại cho hệ tiêu hóa. Trong trường hợp này, cần phải giảm liều lượng bổ sung calcium.
Táo bón: Đây cũng là một tác dụng phụ “kinh điển” của việc bổ sung calcium, với hệ lụy là tích lũy độc chất trong cơ thể gây trướng bụng và đau bụng.
Vitamin D
Vitamin D là một nhóm gồm từ D2 đến D7 trong đó hai chất có hoạt tính mạnh nhất là D2 và D3, trong đó D3 được tổng hợp ở các tế bào da nhờ ánh sáng tử ngoại, nếu được tiếp xúc đủ với ánh sáng mặt trời thì lượng D3 tạo ra đủ cho nhu cầu vitamin D của cơ thể.
Vitamin D có vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo xương nhờ tác dụng chuyển hóa các chất vô cơ mà chủ yếu là canxi và phosphat; nó làm tăng hấp thu canxi và phosphat ở ruột, tăng tái hấp thu canxi ở thận, tham gia quá trình canxi hóa sụn tăng trưởng. Do vậy, vai trò của nó rất quan trọng trong sự phát triển bình thường của trẻ em. Bên cạnh đó, nó còn có vai trò điều hòa nồng độ canxi trong máu luôn hằng định, khi thiếu vitamin D, ruột không hấp thu đủ canxi và phospho làm canxi máu giảm, khi đó canxi bị huy động từ xương ra để ổn định nồng độ canxi trong máu nên gây hậu quả là trẻ em chậm lớn còi xương, chậm biết đi, chân vòng kiềng… người lớn sẽ bị loãng xương, thưa xương, xương dễ gãy…
Tuy nhiên, khi nào bổ sung và bổ sung như thế nào cần có ý kiến thầy thuốc, không nên tự ý sử dụng thuốc, vì bên cạnh các tác dụng như trên, nếu dùng thuốc không đúng có thể gây chứng tăng canxi huyết, tăng canxi niệu, thậm chí sỏi thận, tăng huyết áp, đau nhức khớp; có thể gặp tình trạng ngộ độc với các biểu hiện mệt mỏi, nhức đầu, nôn, buồn nôn, tiêu chảy và đặc biệt là tình trạng trướng bụng đầy hơi.

Cảm cúm là bệnh thường gặp khi trời tiết trở lạnh, đặc biệt trong thời khắc giao mùa, các triệu chứng thường gặp là hắt hơi, sổ mũi, ho, đờm đặc…


Thuốc làm tăng dịch tiết
Là thuốc làm tăng bài tiết dịch ở đường hô hấp, bảo vệ niêm mạc chống lại các tác nhân kích thích và khi làm tan được những tác nhân đó sẽ giúp loại trừ chúng dễ dàng. Thuốc có 2 cơ chế tác dụng, một là kích thích các receptor để gây phản xạ phó giao cảm làm tăng bài tiết dịch ở đường hô hấp, nhưng liều có tác dụng thường làm đau dạ dày và có thể gây nôn. Một số thuốc thường dùng là natri iodid và kali iodid… Cần lưu ý, khi dùng kéo dài các thuốc này có thể gây tích lũy iod. Không dùng cho phụ nữ có thai, trẻ em, người bị bướu giáp. Hai là, kích thích trực tiếp các tế bào xuất tiết, thường dùng các tinh dầu bay hơi như terpin, gaicol, eucallyptol. Những tinh dầu này còn có tác dụng sát khuẩn. Không dùng gaicol cho trẻ em dưới 30 tháng tuổi.
Thuốc làm tiêu chất nhày
Các thuốc này có tác dụng làm lỏng các dịch tiết của niêm mạc khí – phế quản do làm thay đổi cấu trúc của dịch nhày, dẫn đến giảm độ nhớt của chất nhày. Vì vậy, các “chất” nhày có thể di chuyển dễ dàng và được tống ra khỏi đường hô hấp bằng hệ thống lông chuyển hoặc sự khạc đờm. Các thuốc trong nhóm gồm có: acetylcystein, bromhexin… Tuy nhiên, các thuốc làm tiêu chất nhày có thể làm phá vỡ hàng rào chất nhày bảo vệ ở dạ dày, phải thận trọng ở những người có tiền sử loét dạ dày – tá tràng.
N- acetylcystein
Đây là thuốc có tác dụng làm giảm độ quánh của đờm ở phổi, tạo thuận lợi để tống đờm ra ngoài bằng phản xạ ho, dẫn lưu tư thế hoặc bằng phương pháp cơ học. Thuốc được dùng trong bệnh nhày nhớt, các bệnh lý hô hấp có đờm nhày quánh như trong viêm phế quản cấp hoặc mạn. Ngoài ra, còn dùng làm thuốc giải độc khi dùng quá liều paracetamol. Không dùng ở người có tiền sử hen (nguy cơ phản ứng co thắt phế quản). Thuốc có thể gây: buồn nôn, nôn, buồn ngủ, nhức đầu, phản ứng dị ứng. Không dùng đồng thời với các thuốc chống ho hoặc các thuốc làm giảm bài tiết dịch phế quản.
Bromhexin
Dùng điều trị những rối loạn hô hấp đi kèm với ho có đờm. Khi điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, bromhexin làm tăng sự xâm nhập của một số kháng sinh vào dịch bài tiết phế quản, tăng đáp ứng với kháng sinh. Cần thận trọng ở người có tiền sử loét dạ dày – tá tràng, bệnh hen, suy gan hoặc suy thận nặng. Khi dùng, người bệnh có thể gặp các triệu chứng không mong muốn do thuốc như rối loạn tiêu hóa, tăng nhẹ enzym gan, chóng mặt, nhức đầu, phát ban ở da.
Chú ý, trong điều trị ho không được dùng thuốc làm long đờm đồng thời (phối hợp) với thuốc giảm ho, vì sự phối hợp này không hợp lý. Có rất ít bằng chứng cho thấy hiệu lực của chúng, trong khi người bệnh có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ức chế phản xạ ho sẽ dẫn đến ứ đọng đờm).

Sẽ không có gì hợp lý hơn khi dùng chính vitamin B1 để điều trị bệnh thần kinh do thiếu vitamin này. Tuy nhiên, sự phục hồi cũng không phải đơn giản.

Bệnh viêm đa dây thần kinh là gì?
Bệnh viêm đa dây thần kinh còn được gọi với một tên khác là bệnh đa dây thần kinh, được thể hiện bằng một tình trạng rối loạn và suy giảm chức năng của các dây thần kinh ngoại biên. Tùy thuộc vào chức năng của các dây thần kinh ngoại biên là gì mà triệu chứng của bệnh ra sao: Khi dây thần kinh đó có chức năng vận động thì người bệnh sẽ bị giảm vận động. Khi chức năng của dây thần kinh đó là cảm giác thì triệu chứng sẽ là rối loạn cảm giác.

Thông thường, thứ tự thể hiện triệu chứng sẽ là rối loạn dinh dưỡng trước, rối loạn cảm giác, rồi sau đó rối loạn vận động. Khi xuất hiện thêm triệu chứng mới thì triệu chứng cũ vẫn tồn tại và tiến triển nặng thêm.Viêm đa dây thần kinh xảy ra có nhiều nguyên nhân. Có thể kể ra đây như đái tháo đường, thiếu vitamin B1, nhiễm độc, nghiện rượu… Nhưng ở đây chúng tôi muốn nói đến nguyên nhân thiếu vitamin B1 và cách dùng vitamin này để phục hồi.
Tại sao thiếu vitamin B1 lại gây ra bệnh?
Thiếu vitamin B1 gây ra bệnh viêm đa dây thần kinh được gọi là bệnh tê phù beriberi. Bệnh xuất hiện do ăn chế độ thiếu vitamin B1 trầm trọng.
Điều đáng quan tâm với các nhà điều trị đó là cơ chế gây ra tổn thương dây thần kinh trong bệnh thiếu vitamin B1 gây ra. Bởi vì có hiểu rõ cội nguồn tổn thương thì bác sĩ điều trị mới có thể lượng giá tốt bệnh nhân và đánh giá đúng được thời gian điều trị.
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, vitamin B1 có vai trò quan trọng trong việc tạo ra điện thế dẫn truyền trên dây thần kinh. Sau khi dùng chất kháng B1, phẫu tích các dây thần kinh và đo điện thế dẫn truyền, người ta thấy sự thiếu vitamin B1 gây ra sự mất điện thế dẫn truyền trên dây thần kinh và quá trình dẫn truyền các xung động thần kinh bị ngừng hãm hoặc mất hoàn toàn. Khi đó, người ta thấy nồng độ vitamin B1 bị giảm 40% so với giá trị gốc. Thí nghiệm này chứng tỏ, vitamin B1 có vai trò quan trọng trong việc tạo ra hiệu điện thế dẫn truyền và duy trì chức năng thần kinh.
Đo đạc các chất năng lượng cao năng trong các tế bào thần kinh thì người ta thấy, nồng độ các chất cao năng đều bị giảm. Cụ thể, nồng độ các chất ATP bị giảm 10% còn nồng độ các chất creatinphosphat bị giảm 20% khi vitamin B1 giảm 20%.
Bằng các phân tích hình ảnh giải phẫu bệnh người ta thấy, chất trục tương bị suy giảm, tế bào Schwann bị chết dần, bao myelin bị phá vỡ và dang dở, các ty thể bị phì đại và mất chức năng. Như vậy, vitamin B1, có lẽ ngoài đóng vai trò là co-enzym chuyển hóa nó còn đóng vai trò là chất duy trì sự hoàn hảo trong việc dẫn truyền các xung động thần kinh. Và do vậy việc dùng vitamin Brất quan trọng trong điều trị chứng bệnh này.
Điều trị bằng chính vitamin B1
Trong các trường hợp nhẹ, chỉ cần uống vitamin B1 với liều 100mg/ngày duy trì liên tục trong 2-3 tuần là bệnh đã có thể hồi phục. Còn khi bệnh ở mức độ nặng, nhất là khi bị thể bệnh tim kết hợp với thần kinh, bạn nhất thiết phải dùng B1 dưới dạng tiêm.
Thường thì sau khi thiếu vitamin B1 một tháng triệu chứng mới xuất hiện nhưng chỉ cần tiêm vitamin Bsau 24-36 giờ triệu chứng đã bắt đầu được cải thiện. Các triệu chứng thần kinh rất nhạy cảm với điều trị song thời gian để hồi phục hoàn toàn lại rất chậm. Sau khi tiêm, bạn phải tiếp tục dùng vitamin B1 dạng uống duy trì liên tục từ 1-3 tháng tùy vào mức độ nặng nhẹ. Thường thì khi triệu chứng phải phục hồi được chừng 70-80% thì chúng ta mới có thể ngừng thuốc và chuyển sang chế độ điều trị bằng dinh dưỡng.
Với triệu chứng phù, sau tiêm 3 ngày, triệu chứng sẽ giảm bớt. Nhưng chân sẽ còn bị phù sau 2 tuần đầu tiên. Vì thế, bạn không được dừng thuốc ngay mà cần tiếp tục điều trị tiếp theo chiến lược như trên. Nếu như được dùng thêm với thuốc lợi tiểu thì tốc độ sẽ cải thiện nhanh hơn.
Sau khi ngừng uống và tiêm vitamin B1, bạn cần chú ý bổ sung bằng chế độ dinh dưỡng, ăn thực phẩm giàu vitamin B1.

Nhóm thuốc có đuôi “statin” như: atorvastatin, simvastatin, rosuvastatin… là một trong 4 nhóm thuốc hạ mỡ máu (còn gọi là thuốc trị rối loạn lipid huyết) được dùng phổ biến hiện nay. Tuy vậy, nhóm thuốc này luôn được các nhà khoa học lưu ý tác dụng phụ của chúng.


Trong các nhóm thuốc điều trị mỡ máu hiện có nhóm statin được thầy thuốc và người bệnh ưa dùng hơn cả. Những thuốc được dùng nhiều là atorvastatin và simvastatin. Gần đây, rosuvastatin lại nổi lên như một loại thuốc có tác dụng với nhiều nguyên nhân cơ bản gây chứng rối loạn lipid huyết và ít tác dụng phụ. Các thuốc thuộc nhóm này thường có tương tác với nhiều loại thuốc, làm tăng lượng đường máu độc với gan, suy giảm nhận thức… Cơ quan Quản lý thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) thường xuyên theo dõi và đưa ra cảnh báo:
Tháng 2/2010: đưa simvastatin vào danh sách 27 loại thuốc cần giám sát về độ an toàn.
Tháng 3/2010: cảnh báo một số tai biến khi dùng liều cao atorvastatin, simvastatin với các chất ức chế đồng phân P450 như: kháng sinh nhóm macrolid: clarythromycin, erythromycin; nhóm ức chế protease kháng HIV: lopinavir, ritonavir, saquinavir; kháng nấm phổ rộng itraconazol. Các thuốc này sẽ làm cho nồng độ atorvastatin, simvastatin tăng cao trong máu gây đau cơ, tiêu cơ vân.
Tháng 2/2012: cảnh báo về các tác dụng phụ nguy hiểm cho người dùng thuốc thuộc nhóm statin: thuốc làm gia tăng lượng đường trong máu, tăng HbA1c (gây bệnh đái tháo đường týp 2 ở 9 – 13% người dùng thuốc thuộc nhóm statin). Do đó, cần kiểm tra lượng đường trong máu ở người đang dùng thuốc nhóm statin, nếu có tăng đường huyết thì dừng, chuyển dùng nhóm thuốc hạ lipid máu khác; suy giảm nhận thức (hay quên, lẫn), mất trí nhớ có thể xảy ra, đặc biệt ở người dùng thuốc nhóm statin lâu dài; một số thuốc (ức chế đồng phân P450) tương tác với lovastatin có thể làm tăng nguy cơ tổn thương cơ bắp (người đang dùng thuốc này cần theo dõi các triệu chứng đau, yếu cơ để ngừng thuốc); trước khi sử dụng thuốc nhóm statin cần làm các xét nghiệm men gan và đường trong máu, nếu kết quả không bình thường thì không nên dùng (lưu ý bác sĩ trước khi kê đơn thuốc thuộc nhóm statin cho người bệnh); bệnh nhân cần thông báo cho bác sĩ biết các triệu chứng bất thường xảy ra khi đang dùng thuốc nhóm statin như: mệt mỏi, ăn không ngon, khó chịu vùng bụng trên bên phải, vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu,… để bác sĩ xử trí kịp thời.
Lưu ý: Không được ăn bưởi khi dùng thuốc thuộc nhóm statin (do trong dịch bưởi chứa furano coumarin làm bất hoạt, tăng giáng hóa Cyt P450), đặc biệt là simvastatin (có người đã bị tiêu cơ khi uống simvastatin với nước bưởi; có người ăn bưởi sau khi uống simvastatin đã phải đi cấp cứu do yếu cơ cả tay và chân); không dùng thuốc thuộc nhóm statin cho người mang thai, chuẩn bị mang thai, trong thời kỳ cho con bú.
Design by Hao Tran -