Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Manitol tôi là thuốc lợi tiểu thẩm thấu. Tôi được chỉ định dùng để phòng hoại tử thận cấp do hạ huyết áp, thiểu niệu sau mổ, gây lợi niệu ép buộc để tăng đào thải các chất độc qua đường thận, làm giảm áp lực nội sọ trong phù não, làm giảm nhãn áp, dùng trước và trong các phẫu thuật mắt, dùng làm test thăm dò chức năng thận, dùng làm dịch rửa trong cắt nội soi tuyến tiền liệt. 

Tuyệt đối không dùng tôi cho bệnh nhân bị mất nước, suy tim sung huyết, các bệnh tim nặng, chảy máu nội sọ sau chấn thương sọ não, phù do rối loạn chuyển hóa có kèm theo dễ vỡ mao mạch, bệnh nhân suy thận nặng, bệnh nhân thiểu niệu hoặc vô niệu sau khi làm test với manitol.

Các bạn nên nhớ, trước khi dùng phải chắc chắn là người bệnh không bị mất nước. Trong lúc truyền, cần theo dõi chặt chẽ cân bằng dịch và điện giải, độ thẩm thấu của huyết tương, chức năng thận, dấu hiệu sinh tồn. Nếu lưu lượng dịch truyền vào nhiều hơn lưu lượng nước tiểu thì có thể gây ngộ độc nước. Tác dụng lợi niệu kéo dài của thuốc có thể che lấp các dấu hiệu của bù nước không đủ hoặc giảm thể tích tuần hoàn. Do dịch ưu trương, nên chỉ tiêm dung dịch manitol vào tĩnh mạch, nếu không có thể gây hoại tử mô. Khi dùng tôi theo đường uống có thể làm tăng nồng độ khí hydro trong lòng ruột già tới mức gây vỡ ruột khi trị liệu bằng thấu nhiệt (diathermy). Tuy nhiên, tôi lại dùng được cho phụ nữ có thai.
Một số tương tác thuốc các bạn cần lưu ý để tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra: không được truyền manitol cùng với máu toàn phần, người bệnh đang điều trị bằng lithi cần phải theo dõi đáp ứng với thuốc khi dùng manitol.
Khi dùng tôi, các bạn có thể gặp phải những tác dụng phụ như: tăng thể tích dịch ngoài tế bào, quá tải tuần hoàn (khi dùng liều cao), viêm tắc tĩnh mạch, rét run, sốt, nhức đầu, buồn nôn, nôn, khát, tiêu chảy (khi dùng theo đường uống, manitol có tác dụng như thuốc tẩy), mất cân bằng nước và điện giải, mất cần bằng kiềm toan, đau ngực, mờ mắt. Nếu không may dùng quá liều, các bạn nên ngừng ngay việc truyền manitol và báo ngay cho bác sĩ để được can thiệp kịp thời.

Vitamin D vẫn được coi là vitamin dành cho xương vì nó làm chắc và khỏe xương. Nhưng gần đây, các nhà khoa học còn khám phá thêm nhiều công dụng khác đầy thú vị của loại vitamin này.


Chống tắc mạch do đái tháo đường
Có nhiều cách phân chia biến chứng do đái tháo đường. Một trong các cách phân loại đó là phân chia theo cơ chế gây tổn thương. Biến chứng tắc mạch máu là một trong các biến chứng này.
Nó rất hệ trọng vì nó là cơ chế gây ra tổn thương đa cơ quan ở người bệnh. Vậy mà vitamin D lại có tác dụng chống lại điều này. Thực là một khám phá thú vị.
Kết luận về sự liên quan giữa vitamin D và tác dụng có lợi cho người bệnh được rút ra từ công trình nghiên cứu của các nhà khoa học tại Trường Y Washington (thuộc Đại học Washington, Hoa Kỳ).
Nhóm các nhà khoa học đã nghiên cứu và thấy rằng, hình như những người dùng vitamin D thường xuyên ít bị bệnh tim mạch và biến chứng bàn chân do tắc mạch. Họ phân tích, đo đạc và cuối cùng đi đến một kết luận là nếu như nồng độ vitamin D trong máu quá thấp, người bệnh sẽ hay bị tắc mạch hơn. Cơ chế được cho là do vitamin D làm giảm sự bám dính của các tế bào đại thực bào, các tế bào bạch cầu vào bề mặt mạch máu và do đó mạch máu ít khi bị tắc.
Thực chẳng gì thú vị hơn khám phá này. Mặc dù còn rất nhiều điều phải làm tiếp nhưng những tín hiệu mở đầu này ít nhất cũng đem lại niềm vui đầu năm mới cho những người không may bị bệnh.
Giảm nguy cơ viêm phổi trẻ em
Viêm phổi nói riêng và viêm đường hô hấp nói chung là một trong các bệnh khá thường gặp ở trẻ em tại các nước có khí hậu thất thường như nước ta. Bệnh gây ra nhiều hậu quả tai hại. Thế nhưng, nếu như bà mẹ chịu khó nuôi con bằng sữa mẹ, chăm sóc con với chế độ đủ vitamin D và giúp bé tắm nắng đủ giờ thì mẹ có thể yên tâm con mình sẽ giảm nguy cơ với bệnh này.
Công dụng này của vitamin D được các bác sĩ của Bệnh viện đa khoa Massachusetts (Mỹ) tìm ra. Tất nhiên không phải tự nhiên các bác sĩ ở đây lại đi thử nghiệm một cái “chả mấy liên quan” như vitamin D và viêm phổi cả. Ngọn nguồn của thăm dò này đó là một vài bác sĩ thấy rằng những đứa trẻ bị thiếu vitamin D, còi xương thì có vẻ như chúng bị viêm phổi nặng hơn. Vậy là sự “tò mò” về công dụng vitamin D xuất hiện.
Cuối cùng thì công trình nghiên cứu cũng được tiến hành. Và kết quả quan sát được là nếu một đứa trẻ không bị còi xương, không bị thiếu hụt vitamin D thì chúng sẽ giảm được một nửa nguy cơ viêm đường hô hấp vào mùa đông. Kết quả này cực kỳ tốt đẹp.
Cơ chế đang được tìm hiểu. Song, với bằng chứng ban đầu này, lời khuyên có lợi nhất với bà mẹ là nên cho trẻ bú mẹ đủ và uống sữa đều. Đó là một trong các biện pháp bổ sung vitamin D hoàn hảo và cũng là để tránh viêm phổi cho trẻ em.
Tăng khả năng trí lực của phụ nữ
Một bên là chất làm chắc xương, một bên là trí tuệ của thần kinh trung ương. Nghe có vẻ hơi “xa lạ” với nhau, nhưng đúng là giữa chúng có mối liên quan thật. Và nhóm các bác sĩ của Bệnh viện Angers, thuộc Đại học Angers (Pháp) đã tìm ra điều này. Các bác sĩ ở đây đã theo dõi sức khỏe của 6.257 phụ nữ ở nhiều độ tuổi khác nhau, chủ yếu là người già tham gia chương trình. Qua kiểm nghiệm, các bác sĩ thấy rằng những phụ nữ có nồng độ vitamin D trong máu quá thấp (dưới 10ng/ml) thì có nguy cơ bị chứng suy giảm trí nhớ ở người già rất cao. Ngược lại, những phụ nữ có nồng độ vitamin D trên ngưỡng tối thiểu thì ít nguy cơ hơn.
Tiếp tục theo dõi, các bác sĩ nhận thấy nếu như một tuần mà tổng lượng vitamin D bổ sung vào theo các con đường khác nhau dưới 50mcg thì những đối tượng này cũng có nguy cơ cao bị suy giảm trí nhớ.
Qua phân tích tổng hợp, các bác sĩ lão khoa đã thấy có một mối liên quan nào đó giữa vitamin D và khả năng trí nhớ của phụ nữ. Mặc dù cơ chế chưa được tìm ra là tại sao và bằng cách nào song với khám phá này, một lần nữa lại khẳng định người cao tuổi nên ra ngoài trời tập dưỡng sinh và tắm nắng đủ. Và những phụ nữ có người thân bị mắc chứng Alzheimer thì hãy chú ý phòng bệnh.
Kéo dài tuổi thọ
Đây là thông tin cuối cùng nhưng cũng là thông tin thú vị nhất trong dịp đầu năm này. Các nhà nghiên cứu đã đăng tải một công trình nghiên cứu vô cùng hấp dẫn trên tạp chí khoa học Chuyển hóa và Nội tiết lâm sàng. Nội dung của công trình nghiên cứu này là tìm hiểu và xác định thực hư giữa vitamin D và khả năng kéo dài tuổi thọ.
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi trên những người tình nguyện tại Mỹ. Qua phân tích, họ rút ra một kết luận: những người có nồng độ vitamin D trong máu thấp, dưới 20ng/ml thì sẽ bị giảm tuổi thọ với nguy cơ “đi sang thế giới bên kia” sớm tăng 50%. Còn những người có đủ nồng độ vitamin D sẽ giảm được nguy cơ này và kéo dài tuổi thọ hơn.
Cơ chế được đề xuất có nhiều, nhưng một trong các giả thuyết mà các nhà nghiên cứu công bố đó là vitamin D có tác dụng bảo vệ sức khỏe tim mạch khi về già. Đồng thời, vitamin này còn giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh lão hóa, vốn là các bệnh kinh niên. Do đó giúp kéo dài tuổi thọ.
Vậy nên, dịp đầu năm, lời khuyên cho những bậc tuổi vàng là nếu như muốn tiếp tục ban phước ban lộc cho con cháu thì hãy tích cực vận động, thể dục và tắm nắng để thu thêm vitamin D tự nhiên như là những biện pháp kéo dài tuổi thọ vậy. Nhớ là người già chỉ tắm nắng chừng 1giờ/ngày thôi nhé.

Phenylephrine tôi là thuốc giảm sung huyết trong điều trị bệnh viêm mũi dị ứng theo mùa và cảm. Tôi có tác dụng giãn phế quản và có trong một số thuốc dùng trong điều trị bệnh hen phế quản và viêm phế quản mạn. Trong dạng thuốc nhỏ mắt, phenyllephrine tôi lại được dùng để làm giãn đồng tử lúc khám (soi đáy mắt) hay phẫu thuật mắt.

Trước đây, tôi đã được chỉ định để điều trị giảm huyết áp trong sốc sau khi đã bù đủ dịch hoặc giảm huyết áp do gây tê tủy sống; cơn nhịp nhanh kích phát trên thất; để kéo dài thời gian tê trong gây tê tủy sống hoặc gây tê vùng. Hiện nay, thuốc này ít được chỉ định. Nhỏ mắt để làm giãn đồng tử (trong điều trị viêm màng bồ đào có khả năng gây dính; chuẩn bị trước khi phẫu thuật trong nhãn cầu). Nhỏ mắt để làm giảm sung huyết kết mạc (trong viêm kết mạc cấp). Nhỏ mũi để làm giảm sung huyết mũi, xoang do bị cảm lạnh.
Tuyệt đối không dùng tôi cho bệnh nhân tim mạch nặng, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch vành, tăng huyết áp nặng, blốc nhĩ thất, xơ cứng động mạch nặng, nhịp nhanh thất, cường giáp nặng hoặc bị glôcôm góc đóng. Dung dịch 10% không dùng cho trẻ nhỏ hoặc người cao tuổi. Không dùng cho bệnh nhân mẫn cảm với thuốc hoặc mẫn cảm chéo với pseudoephedrin.
Cần thận trọng khi dùng cho người cao tuổi, bệnh nhân cường giáp, nhịp tim chậm, blốc tim một phần, bệnh cơ tim, xơ cứng động mạch nặng, đái tháo đường týp I. Thận trọng khi dùng tôi cho phụ nữ mang thai và cho con bú.
Một số tác dụng không mong muốn của tôi: kích động thần kinh, bồn chồn, lo âu, khó ngủ, người yếu mệt, choáng váng, đau trước ngực, run rẩy, dị cảm đầu chi, tăng huyết áp, da nhợt nhạt, trắng bệch, cảm giác lạnh da, dựng lông tóc, kích ứng tại chỗ.
Khi sử dụng tôi, bạn phải tuyệt đối tuân thủ chỉ định của thầy thuốc để tránh những hậu quả xấu có thể xảy ra. Nhất là khi gặp phải những tương tác thuốc không nên có. Đồng thời, bạn cũng chớ nên dùng tôi quá liều, vì tôi sẽ làm bạn làm tăng huyết áp, nhức đầu, cơn co giật, xuất huyết não, đánh trống ngực, ngoại tâm thu, dị cảm. Nhịp tim chậm thường xảy ra sớm.

Các phương pháp điều trị cho các chứng đau mạn tính thay đổi tùy theo nguyên nhân. Từ các thuốc theo đơn và không theo đơn đến các kỹ thuật can thiệp như châm cứu, nếu một phương pháp không đạt kết quả thì phương pháp khác sẽ được sử dụng thay thế. Khi nói đến điều trị đau mạn tính, không có kỹ thuật đơn lẻ nào bảo đảm có thể làm giảm đau hoàn toàn, mà thường phải sử dụng tổng hợp cùng lúc nhiều phương pháp điều trị.

Ðiều trị bằng thuốc: theo đơn và không theo đơn
Đối với các hình thức đau nhẹ, có thể dùng các thuốc giảm đau không theo toa như tylenol (acetaminophen) hoặc thuốc kháng viêm non-steroid (NSAIDs) như aspirin và aleve. Cả acetaminophen và NSAIDs đều có tác dụng giảm đau do đau cơ và đau khớp, nhưng chỉ có NSAIDs mới có tác dụng giảm viêm. Các thuốc giảm đau dạng khác như dạng kem, dung dịch dùng ngoài hoặc thuốc xịt được dùng ngoài da để giảm đau do đau cơ và viêm khớp.

Nếu các loại thuốc không theo đơn không đạt hiệu quả, bác sĩ có thể kê đơn cho thuốc mạnh hơn, chẳng hạn như thuốc giãn cơ, thuốc chống lo âu (như valium), thuốc chống trầm cảm, các thuốc chống viêm cần toa như celebrex hoặc một liệu trình ngắn các thuốc giảm đau mạnh hơn (như codein, fentanyl, percocet hoặc vicodin). Cũng có thể dùng một lượng steroid hạn chế tiêm tại khớp làm giảm sưng và viêm.
Tháng 4/2005, Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) yêu cầu celebrex đưa ra các cảnh báo mới về nguy cơ tiềm năng của các cơn đau tim và đột quỵ cũng như loét dạ dày chảy máu. Đồng thời, FDA yêu cầu các thuốc chống viêm không theo đơn (trừ aspirin) sửa lại nhãn mác để thêm các thông tin nguy cơ về tim và loét dạ dày chảy máu.
Giảm đau có kiểm soát trên Patient-controlled analgesia -  PCA) là một phương pháp kiểm soát đau khác. Bằng cách ấn một nút trên bơm máy, bệnh nhân có thể tự quản lý liều thuốc giảm đau cơ sở. Bơm này được kết nối với một ống nhỏ, cho phép thuốc được tiêm vào tĩnh mạch, dưới da hoặc vào khu vực cột sống. Điều này thường được sử dụng trong bệnh viện để điều trị đau.
Đôi khi, thuốc tê cục bộ được sử dụng để phong bế một nhóm các dây thần kinh là nguyên nhân gây đau cho một cơ quan cụ thể hoặc một vùng cơ thể. Mặc dù có nhiều loại phong bế thần kinh, nhưng phương pháp điều trị này không phải luôn luôn được sử dụng. Thường thì các kỹ thuật phong bế không thể thực hiện do quá nguy hiểm hoặc không phải là cách điều trị tốt nhất. Bác sĩ có thể tư vấn cho bạn xem liệu biện pháp này có thích hợp cho bạn.
Tiêm điểm đau kích thích
Tiêm điểm đau kích thích là thủ thuật được sử dụng để điều trị các chứng đau của cơ có chứa các điểm đau kích thích hoặc các điểm co thắt cơ hình thành khi các cơ không được thư giãn. Trong thủ thuật này, chuyên gia y tế sử dụng một mũi kim nhỏ, tiêm một lượng thuốc tê, có thể bao gồm steroid vào một điểm kích thích làm cho các điểm này không hoạt động và đau sẽ giảm. Thông thường, một liệu trình điều trị ngắn sẽ cho kết quả giảm đau bền vững.
Tiêm điểm đau kích thích  được dùng để chữa đau cơ cánh tay, chân, thắt lưng và cổ. Ngoài ra, cách tiếp cận này đã được sử dụng để điều trị đau xơ cơ, đau đầu căng thẳng và hội chứng đau myofascial (đau mạn tính liên quan đến các mô quanh cơ) mà không đáp ứng với điều trị khác.
Phẫu thuật cấy ghép
Khi thuốc và vật lý trị liệu không đạt kết quả, bạn có thể được chỉ định một phẫu thuật cấy ghép để giúp bạn kiểm soát đau. Có hai loại chính của cấy ghép để kiểm soát đau:
Cấy thuốc
Còn gọi là bơm truyền thuốc giảm đau hoặc hệ thống cấp thuốc cột sống. Bác sĩ phẫu thuật tạo ra một túi dưới da đủ rộng để chứa một cái bơm thuốc. Bơm này thường dày khoảng 1 inch và rộng 3 inch. Bác sĩ phẫu thuật cũng chèn một ống catheter có thể dẫn thuốc giảm đau từ bơm vào khoang nội tủy quanh tủy sống. Việc cấy ghép cho phép đưa thuốc trực tiếp vào tủy sống, nơi mà các tín hiệu đau đi vào. Vì lý do này, đưa thuốc vào khoang nội tủy có thể kiểm soát đau đáng kể với liều nhỏ hơn so với thuốc uống. Bên cạnh đó, hệ thống này có thể gây ra ít tác dụng phụ hơn so với thuốc uống vì chỉ cần một lượng thuốc ít hơn.
Cấy ghép thiết bị kích thích tủy sống
Trong sự kích thích tủy sống, các tín hiệu điện cường độ thấp được truyền đến tủy sống hoặc các dây thần kinh đặc hiệu để chặn các tín hiệu đau truyền lên não. Trong thủ thuật này, một thiết bị phát ra các tín hiệu điện được phẫu thuật cấy ghép trong cơ thể. Một điều khiển từ xa được bệnh nhân sử dụng để bật tắt thiết bị và điều chỉnh cường độ của các tín hiệu.
Hiện nay có 2 loại máy kích thích tủy sống. Loại thiết bị cấy ghép hoàn toàn có thể tạo xung và không cần pin được sử dụng rộng rãi. Loại thiết bị khác bao gồm một ăng-ten, bộ dẫn truyền và một bộ tiếp nhận dựa theo tần số radio. Hệ thống ăng-ten và bộ dẫn truyền được mang bên ngoài cơ thể, trong khi bộ tiếp nhận được cấy ghép bên trong cơ thể.
Vật lý trị liệu và tâm lý trị liệu
Vật lý trị liệu giúp giảm đau bằng cách sử dụng các kỹ thuật đặc biệt làm cải thiện vận động và các chức năng suy giảm bởi các  thương tổn và khuyết tật. Cùng với việc sử dụng các kỹ thuật thư giãn và giảm đau, bác sĩ vật lý trị liệu có thể sử dụng dòng TENS để điều trị. Tập thể dục và điều trị tâm lý cũng góp phần không nhỏ trong việc điều trị đau.
Ngoài ra, còn có các liệu pháp khác: các liệu pháp trí óc – cơ thể, châm cứu, tác động cột sống và xoa bóp, dinh dưỡng bổ sung, thảo dược…

Một trong những nguyên nhân gây nhiễm khuẩn đường tiêu hóa là do chúng ta ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn. Biểu hiện nhẹ là rối loạn tiêu hóa, nặng hơn là tiêu chảy, buồn nôn và nôn…


Khi bị rối loạn đường tiêu hóa có thể dùng thuốc bisepton. Đây là thuốc có tác dụng kháng khuẩn kết hợp hai thành phần (gồm trimethoprim và sulfamethoxazole) có tác dụng tốt trong điều trị viêm đường tiêu hóa, kiết lỵ mãn, đặc biệt nhiễm khuẩn đường tiêu hóa do Salmonella, E. coli. Thuốc cũng được dùng rộng rãi trong điều trị cho trẻ em. Ngoài ra thuốc còn có tác dụng chống nhiễm khuẩn hệ tiết niệu, sinh dục (viêm bàng quang, viêm bể thận, viêm tuyến tiền liệt cấp và mạn), dùng điều trị chủ yếu các nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới, viêm phế quản cấp và mãn, viêm xoang, viêm tai giữa.
Hiệu quả điều trị của biseptol dựa trên tác dụng tương hỗ lẫn nhau của hai thành phần trimethoprim và sulfamethoxazole (được phối hợp theo tỷ lệ tối ưu 1:5) trong khi bào chế. Khi vào cơ thể thuốc tác dụng lên quá trình hình thành và chuyển hóa axit folic gây ức chế quá trình tổng hợp nhân DNA của vi khuẩn. Biseptol có tác dụng kìm khuẩn mạnh chủ yếu là các vi khuẩn Gram (+) và một số vi khuẩn Gram (-). Vì có sự phối hợp này tạo tác dụng hiệp đồng tăng cường làm tăng hiệu quả điều trị và giảm kháng thuốc.
Khi bị rối loạn tiêu hóa, người lớn và trẻ em trên 12 tuổi, uống 2 viên một lần, ngày uống 2 lần. Trẻ em dưới 12 tuổi và những bệnh nhân có yêu cầu chữa trị đặc biệt dùng theo chỉ dẫn của thầy thuốc.
Không dùng thuốc trong trường hợp người bệnh mẫn cảm với sulfamid hoặc trimethoprim. Không dùng thuốc cho trẻ sơ sinh, trẻ em dưới 3 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú.
Khi dùng thuốc, đôi khi có thể gây tác dụng rối loạn tiêu hóa: buồn nôn, nôn, tiêu chảy, dị ứng da, mẩn đỏ nhẹ. Nếu dùng trong thời gian dài, đặc biệt ở bệnh nhân cao tuổi, thuốc có thể làm thay đổi các yếu tố trong máu như giảm bạch cầu hạt. Liều cao, đặc biệt ở bệnh nhân gầy yếu có thể gây kết tinh niệu. Cần lưu ý, nếu bệnh nhân bị tiêu chảy hoặc nổi mẩn đỏ ở da thì ngừng thuốc. Trong trường hợp điều trị lâu (trên 14 ngày) và bệnh nhân cao tuổi cần phải kiểm tra công thức máu và nên bổ sung axit folic mỗi ngày.

Viêm tắc động mạch (endarteritis obliterans) là viêm nội mạc các động mạch, thường xuất hiện ở các động mạch nhỏ. Màng nội mạc có xu hướng dày dần lên, dẫn đến tình trạng tắc lòng động mạch, gây hoại tử phần tương ứng được nuôi dưỡng.

Viêm tắc động mạch thường ở nam giới, đa số các trường hợp bệnh phát triển ở chi dưới, nhưng cũng có thể gặp ở chi trên, ở các động mạch ruột, vành tim và não. Dưới đây xin giới thiệu một số thuốc và phương pháp điều trị bệnh này.
Dùng thuốc điều trị viêm tắc mạch
 Mục đích là làm mất sự co thắt các mạch máu và triệu chứng đau do nó gây nên, điều chỉnh lại các quá trình phản xạ ảnh hưởng đến tuần hoàn trong các chi và tăng cường tiếp tế máu động mạch cho chi bị bệnh.

Trước hết cần loại bỏ các yếu tố kích thích gây co mạch: tránh tiếp xúc lạnh, tránh chèn ép lên chi như đi tất chật, bỏ hút thuốc… Sau đó, mới sử dụng đến thuốc hỗ trợ.
Thuốc chống co thắt mạch máu:
Acetylcholin tiêm hằng ngày: là chất tác dụng kích thích hệ muscarinic làm chậm nhịp tim, giãn mạch và hạ huyết áp. Tuy nhiên trong cơ thể, acetylcholin bị phá hủy rất nhanh.
Papaverin: có tác dụng chống co thắt cơ trơn và gây giãn mạch ngoại vi.  Spasmaverin là thuốc có tác dụng chống co thắt tổng hợp, mạnh gấp 3 lần papaverin nhưng ít độc hơn 3 lần.
Nospa tác dụng và liều lượng như spasmaverin, có thể tiêm vào động mạch.
 Buflomedil (fonzylane, pondil): là thuốc tổng hợp tăng cường tuần hoàn ở động mạch nhỏ và mao mạch do làm giãn mạch. Được chỉ định trong chứng suy tuần hoàn động mạch ở các chi, rối loạn vận mạch ở đầu chi như hội chứng Raynaud, thiểu năng tuần hoàn não, tuần hoàn võng mạc và ốc tai (gây giảm thị lực và thính lực).
Liệu pháp novocain:
Tiêm novocain trực tiếp vào mạch máu để tác động lên thần kinh của mạch máu, làm mất hiện tượng co thắt mạch. Phương pháp này chỉ áp dụng trong giai đoạn thứ nhất và thứ hai của bệnh, khi còn sự lưu thông của động mạch đùi.
Vật lý trị liệu
Vật lý trị liệu nhằm mục đích chống viêm, chống co thắt, tăng cường tuần hoàn, chống loét. Chống viêm: khi bệnh mới bắt đầu.
Tử ngoại: tại chỗ động mạch (và tĩnh mạch nếu có) 3 – 4 LSH, cách nhau 2 – 3 ngày một lần, một đợt 3 – 4 lần.
Sóng ngắn: dùng liều nhỏ không nóng 15 – 30W, có thể dùng chế độ xung với công suất đỉnh lớn trong khi công suất trung bình nhỏ để tăng cường tác dụng chống viêm, mỗi lần 5 – 6 phút, 7 – 10 lần. Khi bệnh đã tiến triển đến giai đoạn xơ sẹo, viêm mạn, dùng phương pháp điện di natri iodua (hay kali iodua, đặt điện cực âm cho thuốc vào chỗ tắc). Hoặc dùng paraffin đắp vào chỗ tắc. Chống co thắt bằng điện di magne sulfat: điện cực dương cho thuốc đặt ở gốc chi trên thân động mạch chính, 15 – 20 lần một đợt, có thể làm nhiều đợt cách nhau 2 – 3 tuần.
Siêu âm: di động ở vùng thân động mạch gốc chi và dọc đường đi của động mạch chính, 0,2 – 0,6W/cm2 , 6 – 10 phút, 10 – 15 lần một đợt.
Sử dụng nhiệt liều nóng nhẹ (hồng ngoại, paraffin), xoa bóp. Bệnh nhân cần vận động thể dục sau khi điều trị nhiệt và xoa bóp. Ngoài ra, còn điều trị tổn thương hoại tử: như vết thương thông thường: tử ngoại, hồng ngoại, sóng ngắn… Cuối cùng, cần tăng cường dinh dưỡng cho bệnh nhân.
Ðiều trị bằng phẫu thuật
Mục tiêu điều trị cơ bản là mở thông động mạch chậu – chi dưới. Có hai phương pháp mở thông động mạch chậu – chi dưới: nong – đặt stent động mạch chậu – chi dưới qua da bằng ống thông (can thiệp mạch) và phẫu thuật làm cầu nối động mạch.
Chỉ định phương pháp can thiệp hay phẫu thuật được cân nhắc tùy trường hợp cụ thể. Phương pháp can thiệp mạch có nhiều ưu điểm so với phẫu thuật, ngày càng được bệnh nhân chấp nhận nhiều hơn, có thể thực hiện được cho phần lớn bệnh nhân, kể cả các trường hợp bị tổn thương mạch nhỏ ở cẳng chân và bàn chân. Các loại thuốc uống sau can thiệp hoặc phẫu thuật rất quan trọng để duy trì kết quả điều trị, hạn chế bị tắc lại.

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Vitamin C (acid ascorbic) là vitamin rất cần thiết cho cơ thể. Vitamin C có nhiều trong các loại rau quả tươi như nước cam, chanh, quýt và có hàm lượng cao trong rau xanh, đặc biệt là bông cải xanh, khoai tây, rau cải, cà chua… Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sức đề kháng của cơ thể khi bị nhiễm khuẩn.

Giúp trẻ em tăng trưởng và phòng bệnh
Vitamin C rất quan trọng với sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em, giúp trẻ hấp thu hiệu quả sắt và canxi từ thực phẩm. Trong giai đoạn cơ thể phát triển nhanh, trẻ rất dễ bị thiếu vitamin C do chế độ ăn không cung cấp đủ với các biểu hiện như: giảm sức đề kháng, hay ốm vặt kèm theo mệt mỏi, biếng ăn, mụn nhọt, rôm sảy, dị ứng, mẩn ngứa, phát ban, lợi sưng, dễ chảy máu chân răng, lở miệng, nhiệt miệng… Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh, vitamin C giúp tăng cường khả năng miễn dịch của trẻ, giúp trẻ tự bảo vệ cơ thể, hỗ trợ phòng ngừa các bệnh thường gặp do vi khuẩn, virut gây ra: cảm cúm, sốt virut, tay – chân – miệng, thủy đậu, sốt do nhiễm khuẩn, viêm đường hô hấp, hen suyễn…

Mặc dù là vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ nhưng vitamin C là hợp chất cơ thể không tự tổng hợp được, không bền, dễ tan trong nước nên không được tích luỹ trong cơ thể. Mặt khác, vitamin C dễ bị phân hủy ở nhiệt độ cao nên thức ăn chế biến sẵn hoặc để lâu dễ bị mất đi, vì vậy, vitamin C cần được cung cấp hàng ngày. Nguồn cung cấp vitamin C cho trẻ cơ bản từ chế độ dinh dưỡng, từ rau củ (súp lơ, cải bắp, khoai lang, khoai tây…), từ các loại quả (cam, quýt, đào, lê, táo…). Tuy nhiên, lượng vitamin C sẽ bị hao hụt đi rất nhiều trong quá trình bảo quản và chế biến, vì vậy, trẻ không nhận được đủ  vitamin C cần thiết cho cơ thể và cần bổ sung các chế phẩm chứa vitamin C.
Lưu ý khi sử dụng cùng với thuốc khác
Trong giai đoạn giao mùa, thời tiết thay đổi thất thường khiến cơ thể trẻ  không thích nghi kịp, các bậc cha mẹ nên duy trì bổ sung vitamin C đều đặn hàng ngày kết hợp với một chế độ dinh dưỡng hợp lý để giúp trẻ nâng cao sức đề kháng, hỗ trợ phục hồi sức khỏe cho trẻ trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn và các bệnh lây qua đường hô hấp do vi khuẩn và virut gây ra, tránh tình trạng bệnh tái nhiễm nhiều lần, giúp trẻ luôn mạnh khỏe. Cần có chế độ ăn uống hợp lý ngoài các chất thiết yếu cần bổ sung đầy đủ các loại rau xanh và trái cây để cơ thể không bị thiếu vitamin C. Bổ sung vitamin C cho cơ thể bằng con đường tự nhiên qua ăn uống tốt hơn là dùng thuốc. Vì đây cũng là vitamin cần thiết giúp cho cơ thể chống lại các chất ôxy hóa, giữ được nét thanh xuân cho cơ thể, nhất là biểu hiện trên da.
Cần lưu ý, khi đang uống các loại thuốc kháng sinh, nhất là các kháng sinh nhóm beta lactam như penicilin, ampicilin, amoxycilin, augmentin, unacyl, cloxacylin, oxacilin… cần chú ý không được dùng nước hoa quả hay các đồ uống có vị chua bởi vì các kháng sinh này không bền ở môi trường acid. Trong khi đó, vitamin C sủi chính là dung dịch acid ascorbic. Nhiều người thường có thói quen uống thuốc xong lại cho uống viên C sủi hoặc dùng ngay dung dịch viên C sủi để uống các loại thuốc kháng sinh khác. Đây là cách dùng thuốc không đúng dẫn đến tương tác thuốc giữa kháng sinh và vitamin C vốn có bản chất là một acid nên tác dụng của thuốc kháng sinh sẽ bị ảnh hưởng trong môi trường acid của vitamin C. Vì vậy, khi đang dùng kháng sinh, tốt nhất không nên uống cùng lúc với các thuốc có vitamin C. Cũng không nên dùng các loại nước hoa quả chua, các loại nước ngọt có ga và có pH acid ngay sau khi vừa uống thuốc kháng sinh. Cần nhớ rằng, nhiều loại thuốc kháng sinh nhóm beta lactam có tên biệt dược khác như amoksiklav, clamoxyl, hiconcil, ospen, dodacin… cũng vẫn phải tuân thủ nguyên tắc không uống cùng với các chất có pH acid. Vì vậy, khi đang dùng các thuốc kháng sinh đường uống, tốt nhất không nên uống với các chất có vitamin C.
Nhiều người đau dạ dày do viêm, loét thường được khuyên không nên ăn chua để tránh tăng acid dịch vị gây ra các cơn đau do kích thích ổ viêm loét. Vitamin C có vị chua nên nhiều người lầm tưởng là bệnh dạ dày thì không được dùng thuốc này. Tuy nhiên, vitamin C là một sinh tố cần thiết cho sức khỏe và có tác dụng tốt bảo vệ thành mạch. Hơn nữa, vitamin C không chỉ là thuốc và không phải chỉ có trong những trái cây chua  như chanh, cam… mà nó còn có nhiều trong những trái cây ngọt như đu đủ, dưa hấu… cũng như trong nhiều loại rau cải như bông cải trắng, bông cải xanh, ớt chuông, rau dền, măng tây, giá, hành tây… Người bị đau dạ dày vẫn cần ăn đủ các thức ăn trên để cơ thể tăng sức đề kháng và không bị thiếu sinh tố C. Dùng vitamin C không những không hại đến dạ dày mà còn giúp giảm nguy cơ bị nhiễm vi trùng H.Pylori là nguyên nhân thường nhất gây viêm, loét dạ dày. Vitamin C có tác dụng bảo vệ dạ dày nếu tiêu thụ trong mức cho phép. Duy trì hàm lượng vitamin C bình thường trong dịch dạ dày có thể phát huy hiệu quả chức năng của dạ dày, bảo vệ bụng và tăng cường sức đề kháng cho dạ dày. Tốt nhất, nên bổ sung vitamin C từ các loại rau củ quả.

Thuốc kháng thấp sinh học là tất cả các thuốc có đặc tính kháng thấp mang cấu trúc là các phân tử sinh học, phân biệt hoàn toàn với các thuốc kháng thấp mang bản chất là các hợp chất hóa học tổng hợp.

Thuốc kháng thấp sinh học là gì?
Hiện nay, thuốc kháng thấp được dùng trong bệnh viêm đa khớp dạng thấp được phân chia thành 2 loại cơ bản: thuốc kháng thấp thông thường (thuốc kháng thấp tổng hợp) và thuốc kháng thấp sinh học (các hoạt chất sinh học).

Thuốc kháng thấp tổng hợp là các hợp chất hóa học được tổng hợp có tác dụng chống thấp như methothrexat. Khác với thuốc kháng thấp tổng hợp, thuốc kháng thấp sinh học được tổng hợp theo con đường sinh học, sử dụng các công nghệ sinh học để tạo ra như công nghệ tái tổ hợp.
Thuốc kháng thấp sinh học có nhiều loại khác nhau, gồm các chất ức chế yếu tố hoại tử u TNF, các chất ức chế interleukin 1, các chất ức chế sự kích thích tế bào lympho T và các chất ức chế tế bào lympho B. Các thuốc ức chế TNF như etanercept, infliximab và adalimuma, thuốc ức chế interleukin 1 như anakinra, thuốc ức chế kích thích tế bào lympho T như abatacept và thuốc ức chế tế bào lympho B như rituximab.
Sở dĩ người ta chế ra các thuốc này là vì trong những năm gần đây, ở bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp mức độ nặng đều có nồng độ các yếu tố hoại tử u TNF và interleukin 1 tăng cao. Các chất này được coi là các cytokin có vai trò gây viêm quan trọng. Trên thực tế, các chất này mang tính đặc hiệu trong bệnh ung thư. TNF được tìm thấy nhiều trong các bệnh liên quan đến ung thư và nó có tác dụng tiêu diệt khối u. Interleukin 1 là một chất trung gian hóa học do tế bào bạch cầu tiết ra có khả năng hấp dẫn và hóa ứng động các tế bào bạch cầu ở vùng xa cơ thể tập trung tại một vị trí nhất định. Nhưng do cả hai yếu tố này đều tăng mạnh trong bệnh viêm khớp dạng thấp nên một giả thiết đã được đề ra là hai yếu tố này có vai trò nào đó trong phản ứng viêm, nhất là viêm khớp. Vì thế, các thuốc kháng thấp sinh học được tạo ra nhằm mục đích điều trị này.
Chúng có gì khác biệt?
Về cấu trúc hóa học, các thuốc kháng thấp tổng hợp mang bản chất là các hợp chất hóa học được tổng hợp bên ngoài cơ thể sống. Vì thế, chúng là các thuốc gây hại cho hai cơ quan chuyển hóa đó là gan và thận. Đa phần các hợp chất hóa học ngoại sinh, kể cả các chất dùng làm thuốc đều là các chất ngoại lai và không phù hợp với cơ thể. Cho nên, một đặc điểm của chúng là dễ gây viêm gan và suy thận. Khác với dòng thuốc này, các thuốc kháng thấp sinh học đều mang bản chất là các hợp chất sinh học, được sản xuất theo công nghệ sinh học và mang cấu trúc thân thiện với các cơ thể sống. Ở một góc độ nào đó, chúng ít độc hại với gan và thận hơn với những thế hệ đồng nhiệm.
Điều này có ảnh hưởng chặt chẽ tới chỉ định sử dụng và các tai biến cần theo dõi khi dùng thuốc. Bởi nếu như người bệnh bị viêm gan nặng thì thuốc kháng thấp tổng hợp sẽ không được lựa chọn như là một giải pháp ưu tiên.
Về mục tiêu tác dụng, đối với các thuốc kháng thấp tổng hợp, mục tiêu tác dụng của chúng là tế bào. Tức là chúng sẽ xâm nhập vào tế bào, tác động vào một khâu đặc hiệu nào đó nhằm đạt đến một mục đích cuối cùng là giảm quá trình tổng hợp các chất trung gian hóa học của viêm, do đó giảm được viêm khớp. Nhưng với các thuốc kháng thấp sinh học thì mục tiêu chính của các thuốc này không phải là tế bào mà là các phân tử sinh học. Chúng tác động trực tiếp vào các chất hóa học gây viêm và ức chế sự hoạt động của chúng. Do đó, các tế bào và hoạt động của tế bào lại không hề bị ảnh hưởng hay đúng ra là ít bị ảnh hưởng.
Chính vì điều này mà tác dụng làm giảm đau, giảm viêm mang tính cấp tốc và đạt được nhanh hơn nhiều so với thuốc kháng thấp tổng hợp. Nhưng chúng lại chỉ có tác dụng với các chất gây viêm đã được tạo ra sẵn chứ chúng không có tác dụng với các chất gây viêm sắp được tạo ra hay là các chất gây viêm thế hệ thứ 2. Cho nên, điều này ảnh hưởng mạnh mẽ tới thời điểm điều trị. Cũng vì tác dụng vào các chất trung gian hóa học gây viêm mà tác dụng phụ của các thuốc này cũng rất nghiêm trọng, rất cần cân nhắc.
Khi nào quyết định dùng?
Chỉ nên dùng thuốc kháng thấp sinh học khi các thuốc kháng thấp tổng hợp thất bại. Tức là, thuốc kháng thấp sinh học chỉ được coi là giải pháp thứ 2, lựa chọn kế tiếp chứ không phải là các thuốc đầu tay trị thấp.
Đầu tiên, bạn phải dùng thuốc kháng thấp tổng hợp trước. Tiến hành dùng liều thấp hoặc vừa đủ, sau đó tăng dần liều đến liều đáp ứng. Duy trì liều này từ 1-3 tháng. Nếu người bệnh đáp ứng thì phác đồ điều trị được duy trì. Còn nếu thất bại thì chúng ta buộc phải lựa chọn một trong nhiều giải pháp: dùng thêm với thuốc kháng thấp sinh học trong khi vẫn dùng thuốc kháng thấp tổng hợp.
Làm thế nào để biết không đáp ứng với điều trị? Đó là khi người bệnh dùng thuốc mà khớp bị viêm không hết đau hoặc giảm đau rất ít, khó vận động và cải thiện được rất ít. Sự biến dạng bên ngoài của khớp như sưng nề không cải thiện như kỳ vọng.
Trong một số trường hợp, thuốc kháng thấp sinh học được dùng ngay từ đầu với các thuốc kháng thấp tổng hợp nếu như người bệnh bị viêm khớp dạng thấp mức độ nặng.
Có một điểm cần lưu ý: bệnh nhân bị bệnh lao, thiếu máu, suy tủy xương, viêm đa dây thần kinh, suy tim, u và ung thư hoàn toàn chống chỉ định với các thuốc này. Nếu không, quá trình ung thư sẽ xảy ra rất nhanh và nhanh chóng đi đến điểm kết thúc.

Gan và thận là hai cơ quan dễ bị ảnh hưởng nhất khi bạn dùng thuốc điều trị bệnh. Vậy những loại thuốc nào gây ảnh hưởng trực tiếp đến thận?

Corticoid
Khi thận suy, không tiết đủ hormon cortisol, chỉ định bắt buộc là phải đưa cortisol từ bên ngoài bổ sung lượng thiếu hụt nhằm đảm bảo cho cơ thể hoạt động bình thường. Tuy nhiên, khi đưa cortisol từ bên ngoài trong một thời gian dài thì máu luôn có đủ lượng cortisol nên vỏ thượng thận quen dần với  “sự đầy đủ giả tạo” này, không làm chức năng sản xuất cortisol nữa. Lâu ngày không hoạt động vỏ thượng thận bị teo dần. Khi ngừng đột ngột việc đưa cortisol từ bên ngoài, cơ thể lập tức bị thiếu hụt nghiêm trọng cortisol nên cơ thể không thể duy trì các hoạt động bình thường, bị suy thận cấp dẫn tới tử vong. Để tránh tai biến này, trong mọi trường hợp  dùng cortisol chỉ được dùng với liều vừa đủ và thời gian không quá 10 ngày. Khi ngừng thuốc phải giảm liều dần, sau một thời gian mới ngừng hẳn. Thậm chí phải dùng thuốc kích thích sự hoạt động trở lại của tuyến thượng thận.

Kháng viêm không steroid (NSAIDs)
Prostaglandin đóng vai trò trong việc đảm bảo cho máu đi đến thận. Kháng viêm không steroid ức chế việc sản xuất prostaglandin (để chống viêm, giảm đau) và do lượng prostaglandin bị giảm sút nên lượng  máu đi đến thận cũng giảm theo, hoạt động thận kém hiệu quả. Người  tuổi  cao, có sẵn các vấn đề về thận, đang dùng thuốc lợi tiểu mà dùng NSAIDs, người dùng liều cao và/hoặc kéo dài NSAIDs… thì dễ dẫn đến suy thận. Nhóm người thuộc các đối tượng này vẫn có thể dùng NSAIDs nhưng không nên tự ý mà nên có chỉ dẫn của thầy thuốc để tránh tai biến này.
Thuốc ức chế men chuyển
Angiotensin II làm co mạch mạnh, đồng thời làm tăng aldosteron gây tăng huyết áp. Nhóm ức chế men chuyển dùng điều trị tăng huyết áp không cho angiotensin I chuyển thành angiotensin II, giảm lượng angiotensin II trong máu, dẫn tới hạ huyết áp. Thoạt đầu thuốc ức chế giai đoạn angiotensin I chuyển thành angiotensin II, tức ức chế một giai đoạn hoạt động trong hệ renin – aldosteron-angiotensin- (RAA). Sau đó, khi angiotensin II  bị hạ xuống thấp quá thì sẽ xuất hiện phản ứng ngược làm tăng hoạt động của thận, tăng  aldosteron, tăng huyết áp, giữ nước và muối (trong đó có làm tăng kali máu). Hai tác động đến thận này của thuốc đều gây bất lợi cho thận, dẫn tới suy thận cấp. Để tránh tác hại này, lúc khởi đầu cần dùng liều thấp rồi tăng dần liều lên từng nấc cho đến khi đạt yêu cầu (hạ huyết áp) và duy trì ở liều đó.
Dùng kháng sinh aminosid
Trong các nhóm kháng sinh, aminosid là nhóm độc với thận hơn cả song mức độ tùy từng loại. Ví dụ, kamamycin gây trụ niệu và trụ hạt trong các mẫu nước tiểu  trong 16 giờ đầu, nhưng không gây tổn thương thận vĩnh viễn. Trụ niệu sẽ hết khi ngừng thuốc. Tuy nhiên, ở người suy thận, thời gian kamamycin lưu lại trong máu kéo dài. Nếu dùng kamamycin cho người vô  niệu  thì phải dùng cách 3 – 4 ngày một lần và giảm 50% liều dùng so với liều người bình thường. Tobramycin độc với thận xảy ra ngay khi ở nồng độ thấp, vì vậy dùng một liều duy nhất tiêm tĩnh mạch  hơn là chia ra các liều nhỏ. Với người suy thận, cần  giảm liều và dùng liều theo hệ số thanh thải creatinin. Amikacin rất độc với thận, tránh dùng lặp lại, khi dùng cần phải theo dõi nồng độ amikacin máu trong thời kỳ dùng thuốc.

Viêm mũi là bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 6 tuổi (chiếm 75-80% số trẻ độ tuổi này) đặc biệt khi thời tiết thay đổi, nhiệt độ thấp…

Viêm mũi được chia làm hai loại chính là viêm mũi xuất tiết và viêm mũi do vi khuẩn (viêm mũi mủ). Viêm mũi có thể biểu hiện cấp hay mạn tính. Việc điều trị viêm mũi tùy thuộc vào thể viêm mũi mắc phải của trẻ cũng như giai đoạn bệnh.


1. Viêm mũi cấp xuất tiết


Nguyên nhân chính là do virut. Viêm mũi cấp cũng có thể gây thành dịch. Biểu hiện bằng sốt, hắt hơi, chảy nước mũi trong, ngạt tắc mũi nên trẻ nhỏ khó bú. Những trường hợp này được xử trí theo phác đồ sau:
Toàn thân:
- Sử dụng thuốc hạ sốt cho trẻ nếu sốt trên 38,5oC (nhóm chứa paracetamol hiện vẫn được coi là nhóm hạ sốt an toàn nhất).
- Thuốc chống xuất tiết: Do virut được coi là một kháng nguyên tác động lên mũi gây viêm nên người ta dùng kháng histamin H1 (có tác dụng phong bế các thụ thể H1 ở ngoại biên, ức chế phóng thích histamin từ dưỡng bào), với các thế hệ khác nhau như chlorpheniramin maleat, loratidin, fexofenadin hydoclorid, desloratidin… Thuốc kháng histamin thường được dùng kéo dài 2 tuần mỗi đợt điều trị.
- Thuốc tăng cường chức năng miễn dịch hiện rất hay được sử dụng đi kèm là thuốc chứa thymomodulin, làm tăng cường miễn dịch do kích thích sự phát triển của tế bào Lympho T và Lympho B, đồng thời kích thích đại thực bào tấn công tác nhân gây bệnh, tăng hoạt động tổng hợp kháng thể từ tế bào B và hoạt hóa bạch cầu T làm tan rã các tác nhân gây bệnh ký sinh trong tế bào của cơ thể.
Tại chỗ:
- Thuốc chống xung huyết, giảm phù nề niêm mạc mũi: Thuốc thông dụng hiện nay là xylomethazolin 0,05%, thuốc dùng được cho cả trẻ sơ sinh. Ngoài ra còn có adrénaline 0,01%, ephedrine 0,1-0,3%…
- Thuốc làm săn khô niêm mạc mũi là nhóm muối bạc: argyrol. Thuốc này dễ bị phân huỷ bởi ánh sáng nên thuốc được bọc bởi một lớp giấy than chống ánh sáng và sử dụng mỗi lọ chỉ dưới 10 ngày.

2. Viêm mũi mạn tính

Thường là viêm mũi mủ hoặc viêm mũi dị ứng, viêm mũi mạn tính thường đi kèm với viêm xoang. Thuốc sử dụng với những viêm mũi mạn tính thường là:
Toàn thân:
- Kháng sinh: Có thể nuôi cấy dịch mũi làm kháng sinh đồ được coi là biện pháp tối ưu khi điều trị. Kháng sinh thường dùng trong viêm mũi mạn tính phải có phổ rộng để có thể diệt được cả vi khuẩn gram âm, gram dương và vi khuẩn kỵ khí nên hay dùng nhóm cepholosporin thế hệ III.
- Thuốc chống dị ứng: Nên dùng loại có chứa micocrystalline, cellulose… chỉ định cho trẻ trên 6 tháng.
Tại chỗ:
- Thuốc chống viêm có corticoid dạng nhỏ như polydexa, collydexa.. dùng dưới 7 ngày. Người ta cũng pha chế thuốc chữa mũi dạng phun sương có thể dùng kéo dài 2 năm. Tuy nhiên, phải theo dõi chặt chẽ và hiệu chỉnh liều theo sự tiến triển hoặc suy thoái của bệnh. Thuốc coricoid tại chỗ tuy chỉ có khoảng 2% hấp thu vào máu nhưng nếu không được điều trị đúng phương pháp cũng sẽ gây một số biến chứng, nhất là ở trẻ em như không kích thích vỏ thượng thận tiết hormon làm teo vỏ thượng thận, gây hội chứng biến dưỡng do tăng giữ muối, nước, ứ đọng mỡ ở một số bộ phận như mặt, tăng đường huyết… tình trạng quen thuốc do điều trị dở dang.
Thuốc corticoid dùng tại mũi với tính chất chống viêm tại chỗ ở các liều không có tác dụng toàn thân. Trẻ em từ 3-11 tuổi, sử dụng điều trị dự phòng bằng nasonex được khuyên dùng 2 – 4 tuần trước thời gian dự kiến sẽ xuất hiện viêm mũi.
Không được dùng khi có các tổn thương khu trú ở mũi vì tác dụng ức chế sự lành vết thương của corticoid. Đối với bệnh nhân vừa qua phẫu thuật mũi hay chấn thương mũi không được dùng corticoid đường mũi cho tới khi lành. Khi dùng kéo dài phải được kiểm tra định kỳ về các thay đổi có thể ở niêm mạc mũi. Nếu xuất hiện nhiễm nấm khu trú ở niêm mạc mũi họng cần ngưng điều trị. Kích ứng họng dai dẳng cũng là một chỉ định để ngưng thuốc.
Viêm mũi tuy không nguy hiểm nhưng lại rất hay gây biến chứng làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của trẻ như giảm thị lực, viêm họng, ho kéo dài, viêm thanh – khí – phế quản… Chính vì thế cần chẩn đoán và điều trị viêm mũi sớm và triệt để.

Gut là một bệnh viêm khớp do rối loạn chuyển hóa acid uric làm tăng acid uric trong máu, các tinh thể urat lắng đọng trong bao khớp gây ra đau khớp. Acid uric trong máu bình thường bằng 2-5mg/100ml, trong bệnh gut có thể lên đến 8,8mg/100ml.

Các thuốc điều trị gut cấp tính có colchicin là đặc hiệu nhất, ngoài ra còn có phenylbutazon, indometacin hoặc corticoid. Điều trị gut mạn tính dùng các thuốc làm tăng thải trừ acid uric như alopurinol, probenecid, sunfinpyrazol.
Colchicin
Colchicin là alcaloid của cây Colchicum antumnale. Thuốc có dạng bột vô định hình, vàng nhạt, không mùi. Thuốc có tác dụng đặc hiệu cơn gut cấp tính, cơ chế chưa hoàn toàn rõ ràng. Thuốc không có tác dụng giảm đau và chống viêm khớp (trừ gut cấp), không làm tăng thải acid uric và rất ít tác dụng làm hạ acid uric máu.
Trong thực nghiệm tiêm tinh thể urat vào khớp đã gây được các cơn gut cấp tính điển hình, trong khi tiêm urat vô định hình không gây được cơn như thế. Tác dụng gây viêm của tinh thể urat có kèm theo hiện tượng thực bào, colchicin đã giới hạn được hoạt động thực bào của bạch cầu đa nhân và ngăn cản các bạch cầu lympho trưởng thành xuất hiện trong máu, vì vậy phong tỏa được phản ứng viêm này.

Ngoài ra, colchicin còn có tác dụng làm ngừng phân bào ở giai đoạn tiền kỳ, biến kỳ, làm tăng sức bền thành mạch và hủy phó giao cảm.
Tác dụng của colchicin xuất hiện sau 2-3 giờ, có thể dùng cho đến khi hết đau (2-3 ngày) hoặc bắt đầu có rối loạn tiêu hóa.
Tác dụng phụ của colchicin thường là rối loạn tiêu hóa hay gặp, khi dùng liều cao thuốc ức chế tủy xương, viêm dây thần kinh ngoại biên và vô niệu.
 Probenecid (benamid)
Probenecid có dạng bột tinh thể trắng, không mùi, tan trong rượu, ít tan trong nước. Được hấp thu nhanh qua ruột, vào máu, hơn 70% kết hợp với albumin huyết tương, thải trừ qua thận. Thời gian bán thải là 6-12giờ.
Acid uric được lọc qua cầu thận và bài xuất qua ống thận, song phần lớn lại được tái hấp thu ở ống thận. Probenecid ở liều thấp do cạnh tranh với quá trình thải trừ acid uric nên lưu acid uric trong cơ thể, nhưng với liều cao lại ức chế tái hấp thu acid uric ở ống thận nên làm tăng thải trừ acid này qua nước tiểu.
Probenecid còn ức chế cạnh tranh quá trình thải trừ chủ động tại ống lượn gần của một số acid như penicillin, para aminosalicylat, salicylat, clorothiazid, indometacin, sunfinpyrazon…  Probenecid không có tác dụng giảm đau, khi cần giảm đau có thể phối hợp với paracetamol, không dùng cùng với salicylat vì probenecid sẽ mất tác dụng.
Dùng clorothiazid và hydroclorothiazid điều trị tăng huyết áp thường làm ứ urat vì thuốc này ức chế bài xuất urat ở thận. Probebecid đối kháng với tác dụng này mà không ảnh hưởng đến tác dụng lợi niệu của thuốc. Tuy nhiên lại ức chế tác dụng đào thải natri của furosemid.  Có thể dùng cùng với alopurinol.
Tác dụng phụ rất ít như buồn nôn, nôn, mảng đỏ ở da, sốt. Khi đào thải nhiều nước tiểu, acid uric có thể gây cặn sỏi urat với cơn đau quặn thận.
Sunfinpyrazon (anturant)
Công thức gần giống phenylbutazon, gây tiểu ra acid uric mạnh do ngăn cản tái hấp thu ở ống thận. Hấp thu nhanh và hoàn toàn qua đường tiêu hóa. Gây tai biến máu như phenylbutazon nên hiện nay ít dùng. Salicylat làm mất tác dụng của sunfinpyrazon do tranh chấp với sunfin-pyrazon sau khi vận chuyển qua ống thận và cả khi gắn với protein huyết tương.
Alopurinol (zyloprim)
Alopurinol ức chế xantin oxydase do đó làm giảm việc chuyển purin thành acid uric, còn làm tăng thải trừ acid này qua nước tiểu. Làm giảm acid uric máu rất mạnh.
Đầu tiên thuốc được dùng để bảo vệ 6-mercaptopurin khỏi bị mất hoạt tính nhanh trong cơ thể do chuyển thành acid 6-thiouric. Hiện nay được dùng nhiều để chữa gut mạn tính, vì có ưu điểm hơn các thuốc ở trên là dùng được cả cho người gut có bệnh thận và dùng cùng được với salicylat. Thuốc ít tác dụng phụ (mẩn da, sốt, gan to, giảm bạch cầu), ít gây sỏi urat ở thận. Alopurinol bị ôxy hóa nhanh trong cơ thể thành aloxantin thải qua nước tiểu. Probenecid làm tăng thải trừ aloxantin.


Chỉ định dùng trong trường hợp gut mạn tính, tăng acid uric máu thứ phát do ung thư, viêm cơ đáy chậu, do điều trị bằng thuốc chống ung thư hoặc các thuốc lợi tiểu loại thiazid.

Có nhiều mức độ tổn thương gan do tác dụng phụ của thuốc. Những thuốc thường gây tổn thương gan như: thuốc điều trị lao, thuốc trị tiểu đường, thuốc điều trị nấm… Những bệnh nhân có sẵn bệnh gan mạn tính dễ bị ngộ độc thuốc hơn bệnh nhân gan bình thường.

Phân loại gan bị tổn thương do thuốc
Tổn thương gan do thuốc có thể phân loại: tổn thương tế bào gan, tổn thương đường mật hoặc tổn thương phối hợp cả hai. Có nhiều loại thuốc không chỉ gây tổn thương đơn độc mà gây tổn thương phối hợp. Tổn thương gan do thuốc thường có đặc điểm giống bệnh lý tự miễn.

Chẩn đoán tổn thương gan do một loại thuốc nào đó gây ra thường dựa trên hoàn cảnh bệnh và sự nghi ngờ của thầy thuốc nhận thấy rằng thời điểm khởi phát tổn thương gan liên quan đến loại thuốc đang sử dụng mà thuốc này có khả năng gây độc cho gan. Giải quyết biểu hiện của tổn thương gan thường là ngưng dùng thuốc gây độc gan. Đánh giá mô học của gan để biết mức độ tổn thương gan và tổn thương loại gì.
Yếu tố ảnh hưởng: tuổi, giới tính, liều lượng và thời gian dùng thuốc, chế độ dinh dưỡng, sự sử dụng cùng lúc nhiều thuốc, uống rượu, dạng trình bày của thuốc và yếu tố di truyền.
Một số thuốc đặc biệt
Acetaminophen: Thuốc gây độc cho gan tùy theo liều sử dụng. Khi điều trị cần chú ý xem xét liều lượng gây độc cho gan. Với liều nhỏ hơn 2-3g/ngày acetaminophen thấy an toàn và bệnh nhân chịu đựng được. Khi dùng đường uống với liều lớn hơn 10-15g sẽ đưa đến tổn thương gan nặng thường gây tử vong. Tổn thương gan do acetaminophen là dạng phổ biến của bệnh gan do thuốc, đặc biệt hơn là dạng suy gan cấp. Nồng độ men gan transaminase ở bệnh nhân ngộ độc acetaminophen thường lớn hơn 5.000 UI/l.
Ở người nghiện rượu, liều acetaminophen thông thường điều trị vẫn có thể gây độc cho gan, vì vậy phải cẩn thận khi dùng acetaminophen cho người nghiện rượu, không dùng nước uống có cồn để uống acetaminophen.
Isoniazide (INH): Từ giữa thế kỷ 20, INH là thuốc điều trị chính cho bệnh lao. Sự tăng men gan thấy xuất hiện vài tuần sau khi bắt đầu điều trị lao khoảng 10-20% bệnh nhân dùng INH. Sự tăng men gan này thường ở mức vừa phải và không liên quan đến dấu hiệu hay triệu chứng bệnh gan. Ở nhiều bệnh nhân tăng men gan tiếp tục dùng INH vẫn chịu đựng được và có thể sau đó men gan lại trở về gần bình thường. Nếu có tăng men gan, ngưng dùng INH thì men gan trở về bình thường trong vòng 1- 4 tuần. Tuy nhiên vẫn có một số ít bệnh nhân khi dùng INH có thể suy gan cấp.
Bệnh nhân lớn hơn 50 tuổi có nhiều nguy cơ bị viêm gan khi dùng INH, bệnh nhân trẻ em ít khi có tổn thương gan xảy ra. Bệnh nhân nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn nam. Khi điều trị nên theo dõi kỹ để phát hiện viêm gan do INH để ngưng điều trị kịp thời tránh ảnh hưởng nặng cho gan. Nguy cơ ngộ độc INH càng tăng ở bệnh nhân nghiện rượu.
Hợp chất thuốc có từ cây cỏ và vitamin A: Nhiều sản phẩm thuốc từ cây cỏ có thể gây độc cho gan vì sự chế biến thường không theo một tiêu chuẩn nào cả.
Kava – kava: Kava là cây cùng dòng họ với cây tiêu. Từ nhiều thế kỷ qua thường được dùng làm nước uống để điều trị lo lắng, mất ngủ và những triệu chứng tiền mãn kinh ở dân vùng đảo Nam Thái Bình Dương. Những năm gần đây, Kava được dùng ở châu Âu và Mỹ. Nhiều trường hợp suy gan cấp và đưa đến tử vong do kava đã xảy ra. Nhiều sản phẩm chiết xuất từ kava bày bán trên thị trường gây tổn thương gan. Độc cho gan có thể do phương pháp chiết xuất kava từ rễ của cây. Theo cổ điển, chiết xuất được làm bằng cách ngâm rễ cây vào nước và hòa tan với sữa dừa. Ngày nay, người ta dùng ethanol hay acetone để pha chế nên gây độc cho gan.
Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh gan thường xuất hiện trong vòng vài tuần đến 4 tháng sau khi bắt đầu dùng kava. Ở nhiều bệnh nhân chỉ có duy nhất dấu hiệu tăng men gan. Tuy nhiên, ở vài bệnh nhân suy gan cấp, tử vong có thể xảy ra.
Vitamin A: Uống vitamin A quá nhiều là nguyên nhân gây ngộ độc gan phụ thuộc vào liều lượng có thể đưa đến xơ gan cổ trướng và tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Uống thường xuyên liều lớn vitamin A (>25.000 đơn vị /ngày) có thể gây ngộ độc mạn tính và tổn thương gan. Tổn thương gan có thể xảy ra khi uống 15.000-40.000 đơn vị/ngày trong một năm, nhưng liều cao hơn có thể ngộ độc trong vài tháng. Tổn thương gan nhiều hay ít tùy thuộc liều lượng và thời gian sử dụng. Nhiều bệnh nhân có bệnh gan do vitamin A gây ra có khi không nhận thấy, chỉ khi bác sĩ lâm sàng thấy có hiện tượng bệnh nhân dùng vitamin A kéo dài kèm viêm gan mỡ, tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Người nghiện rượu nguy cơ càng cao. Hình ảnh lâm sàng của bệnh là khởi phát của xơ gan cổ trướng, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, giãn tĩnh mạch thực quản.
Tổn thương gan do thuốc trị HIV, VGB, VGC:
Rất khó biết trước được và rất khó đối phó với những độc tính do thuốc gây độc cho gan ở bệnh nhân HIV trải qua quá trình điều trị bệnh. Những bệnh nhân này thường liên quan bệnh gan do rượu, gan nhiễm mỡ, viêm gan mạn tính B, C và bệnh gan do độc tính thuốc điều trị. Có ba loại thuốc điều trị HIV: Pis, NRTIs, NNRTIs đều gây độc gan. Tình huống càng khó khăn phức tạp khi phải điều trị kèm viêm gan B, C. Tuy nhiên, việc điều trị cần thiết để tránh cho bệnh nhân không tử vong do xơ gan.
Bệnh nhân nhiễm HIV có nhiễm HCV dễ ngộ độc gan do thuốc, bệnh nhân nhiễm HCV có nhiễm HIV càng thúc đẩy HCV phát triển và dễ xơ gan, bệnh nhân dễ bị xơ gan hơn nhiễm HCV một mình. Những bệnh nhân này rất dễ ngộ độc thuốc chẳng hạn acetaminophen… và khi dùng rượu rất dễ ngộ độc, dễ đưa đến xơ gan và tử vong.
Design by Hao Tran -